FACULTY OF POLITICAL THEORY

0234.3825698
 

Về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi (1380  1442)  là một triết lý sâu sắc, cốt lõi, bao trùm toàn bộ cuộc đời ông. Bài viết đã phân tích tư tưởng nhân nghĩa trên nhiều khía cạnh: nhân nghĩa là thương dân, vì dân, an dân; nhân nghĩa là sự khoan dung, độ lượng; nhân nghĩa là lý tưởng xây dựng đất nước thái bình Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi kế thừa quan điểm nhân nghĩa Nho giáo, nhưng đã được mở rộng, phát triển hơn, tạo nên dấu ấn đặc sắc trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.


Quan niệm của Nguyễn Du về cuộc đời và thân phận con người

Nguyễn Du đã xuất phát từ quan niệm đời là bể khổ để đi đến những nhận định về nhân sinh trên nền tảng tâm thế Việt  lấy tình cảm, tình yêu thương làm chỗ dựa. Đối với ông, một mặt, sự đối lập giữa tài năng và số phận (luật" tài mệnh tương đố) là sự bất công cơ bản và lớn nhất; mặt khác, con người vẫn có thể cải hoá được số phận nếu nỗ lực tu tâm, hành thiện. Quan niệm về số phận con người là sự cụ thể hoá nhân sinh quan ấy. Nguyễn Du cho rằng, thân phận mỗi người là sự tồn tại theo duyên cảnh, là tất nhiên và mang tính tiền định. Khi xem xét thân phận con người, Nguyễn Du đặc biệt chú ý đến người tài và phụ nữ. Quan niệm về cuộc đời và thân phận con người của Nguyễn Du đã góp một sắc thái đặc biệt trong nền triết lý nhân sinh Việt Nam.


Chủ nghĩa nhân văn Việt Nam - Hồ Chí Minh, một tầm nhìn triết học

Dân tộc Việt Nam ta trong quá trình đấu tranh và xây dựng đã hình thành nên chủ nghĩa nhân văn Việt Nam Và ngày nay đã phát triển lên đỉnh cao mới mà ở đó chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh đã kết tinh cả chủ nghĩa nhân văn Việt Nam, chủ nghĩa nhân văn Đông Tây và nhân loại xưa nay- có tác dụng định hướng lớn và phát huy cao độ nội lực trong phát triển, hiện đại hóa và hội nhập. Chủ nghĩa nhân văn này không chỉ là giá trị về mặt văn hóa mà còn có tầm tinh hoa, tầm triết học, thực sự là như một triết học. Nó cũng là một cơ sở và nội dung chủ yếu của chủ nghĩa duy vật nhân văn. Do đó, khác với nhiều bài viết khác cùng chủ đề, bài viết này là luận ở góc đội triết học là chính.


Phật giáo Huế trong đời sống văn hóa xã hội Huế hiện nay


Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo ở Việt Nam


Hồ Chí Minh với đạo Phật

         Hồ Chí minh luôn có thái độ trân trọng đối với các Tôn giáo và các vị sáng lập ra các Tôn giáo. Khó có thể tìm thấy một dấu hiệu nào dù là rất nhỏ để chứng tỏ là Người công kích, chế diễu đối với một Tôn giáo nào đấy. Tuy nhiên Người cũng có thái độ kiên quyết, đấu tranh không khoan nhượng đối với các tổ chức lợi dụng Tôn giáo vào mục đích xấu, lợi dụng Tôn giáo làm công cụ cho chủ nghĩa thực dân.

       Trong tư tưởng Hồ Chí Minh có cái tinh túy của văn hóa Việt Nam truyền thống, có cái uyên thâm của tri thức nhân loại Đông - Tây - Kim - Cổ. Điều kỳ diệu ở Hồ Chí Minh là tất cả các yếu tố đó đã được Người tổng hợp và hóa giải tài tình tạo nên một tư tưởng khoa học cách mạng rất riêng cho mình. Toàn bộ tư tưởng, sự nghiệp, cuộc đời mình, Người hiến dâng cho củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc nhằm mưu cầu tự do, hạnh phúc cho nhân dân, độc lập cho dân tộc.

       Hồ Chí Minh với Đạo Phật là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ tư tưởng của Người nói riêng, là cơ sở nền tảng của tư tưởng và là kim chỉ nam cho chỉ đạo hoạt động của các Tôn giáo của Đảng và Nhà nươc ta nói chung.


Về ảnh hưởng của Phật giáo Huế trong đời sống văn hóa tinh thần con người Huế


Nét riêng Phật giáo Huế


Góp phần làm sáng tỏ khái niệm "Vô ngã" của Phật giáo


Nho giáo Trung Quốc và Nho giáo Việt Nam - những nét tương đồng và dị biệt


Ảnh hưởng của "Nhân chính" đối với một số nhà triết học Việt Nam tiêu biểu

Nho giáo ra đời ở Trung Quốc từ thế kỷ VI trước công nguyên và từ lâu đã ảnh hưởng rất mạnh ở Châu Á, nhất là Đông Nam Á. Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, đặc biệt là học thuyết “nhân chính”, sự biểu hiện của tư tưởng “nhân nghĩa” trên lĩnh vực chính trị của Mạnh Tử, có một vị trí rất quan trọng trong xã hội Trung Quốc nói riêng, một số nước châu Á nói chung và ngày nay đang rất được nhiều nước phương Tây quan tâm.

Nho giáo du nhập vào Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc, là Hán nho, Tống nho, Minh nho, đã biến tướng tư tưởng của Khổng Tử - Mạnh Tử cho thích hợp với chế độ phong kiến Trung ương tập quyền ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, đường lối nhân chính của Mạnh Tử và sự ảnh hưởng của nó với Việt Nam là điều lý thú cần được khám phá trên “cơ sở đời sống kinh tế xã hội cụ thể, từ phong tục tập quán cổ truyền” của dân tộc, mới thấy hết được giá trị và mức độ sâu sắc của những ảnh hưởng đó.

Thời kỳ nào nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam cũng đã tiếp thu Nho giáo một cách có chọn lọc. Giới hạn của bài viết này chỉ là ảnh hưởng của “Nhân chính” đối với một số nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu.

Khoan thư sức dân, đường lối chính trị mang đậm chất nhân văn của Trần  Quốc Tuấn là sự kết hợp tài tình của tài năng của bản thân, thực tiễn của đất nước và của các trào lưu tư tưởng khác trong đó có tư tưởng “Nhân chính” của Mạnh Tử.

Sự tiếp thu có chọn lọc một cách tài tình phạm trù “Nhân chính” của Mạnh Tử ở anh hùng Nguyễn Trãi đã góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc chống giặc Minh, góp phần to lớn cho sự ổn định và phát triển hưng thịnh triều Lê Sơ. Những tư tưởng tiến bộ của ông mãi mãi còn được các thế hệ sau của Việt Nam và nhân loại lưu truyền.

Phát huy truyền thống dân tộc với việc sử dụng những yếu tố hợp lý trong hệ tư tưởng Nho giáo nói chung và phạm trù “Nhân chính” của Mạnh Tử nói riêng dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, đã tạo nên nét đặc sắc nhất trên diện mạo văn hóa của bậc danh nhân văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh được cả thế giới ngày nay khẳng định.

Việt Nam hiện nay trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chấp nhận nền kinh tế  thị trường, đạo đức, lối sống của thanh niên và của cả một số cán bộ, đảng viên luôn đứng trước những thách thức bị suy thoái. Việc tôn trọng gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới văn minh, hiện đại tiến kịp thời đại là một tất yếu. Thiết nghĩ, trong xây dựng nền văn hóa mới hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc, việc nghiên cứu, đánh giá, kế thừa những yếu tố tích cực trong đường lối nhân chính của Mạnh Tử là một thành tố chung tạo.

 


Tư tưởng triết học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX


Tân văn - Tân thư và ảnh hưởng của nó đến tư tưởng yêu nước ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Tân thư góp phần giúp cho trí thức Việt Nam tiêu biểu thời đó học được phương pháp mà sau này người ta thường gọi là: “Tự thức tỉnh, tự phê phán" để nhìn nhận rõ các ưu khuyết, nhất là các nhược điểm trầm trọng của chính tầng lớp mình, của nhân dân mình, dân tộc mình đặng sửa chữa, khắc phục.


Tư tưởng canh tân sáng tạo nền văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX của chí sĩ Phan Châu Trinh

Với sự nghiệp đổi mới, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa và hiện đại hóa văn hóa dân tộc đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Qua tìm hiểu chí sĩ Phan Châu Trinh, chúng tôi thấy ông là một tấm gương mạnh dạn canh tân và sáng tạo nền văn hóa dân tộc vào thời điểm đầu thế kỷ XX.


Ảnh hưởng triết học phương Tây trong quan niệm của Phan Bội Châu về con người

Phan Bội Châu là người có vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông được coi như chiêc cầu nối giữa truyền thông và hiện đại. Trong tác phẩm Nhân sinh Triết học, về nền học vấn của phương Đông, trên cơ sở những giá trị dân tộc, Phan Bội Châu đã biết cách tiếp nhận những giá trị hiện đại của triết học phương Tây, đặc biệt là vấn đề phương pháp để làm mới quan niệm về con người. Trong tác phẩm này, nghiên cứu về con người của ông được sử dụng qua các khái niệm nhân thể, nhân tính, nhân dục, nhân cách, nhân sự. Qua đó, ông khẳng định những giá trị truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, đồng thời, kêu gọi nhân dân biết cách giữ lấy giá trị truyền thông cũng như tiếp nhận những giá trị mới phù hợp của thời đại để đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người.


Về nguồn gốc triết học Việt Nam

Theo chúng tôi, cần phải khẳng định rằng, Việt Nam có triết học. Về nguồn gốc nhận thức, ngay từ thời kỳ Đông Sơn, nhận thức của người Việt đã đạt đến trình độ tư duy trừu tượng và thực tế, đã có sự hình thành những mầm mống của triết học. Nguồn gốc xã hội của triết học Việt Nam có nét đặc thù riêng - không gắn với sự phân chia giai cấp trong xã hội, mà chủ yếu gắn với công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giành và giữ vững độc lập của dân tộc. Bắt đầu từ khi nước ta bước vào thời kỳ xây dựng quốc gia độc lập (thế kỷ X), những tư tưởng triết học về xã hội, về thực tiễn giữ vai trò trung tâm và xuyên suốt cho đến sau này. Triết học Việt Nam tiếp tục được kế thừa, bổ sung, phát triển và đặc biệt đã tỏa sáng rực rỡ trong tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh.

Đang trực tuyến
  • Khách: 4
  • Thành viên: 0
  • Tổng số thành viên: 36
  • Thành viên mới nhất: danguy

  • Số lượt truy cập:
Liên kết web



Copyright © 2010
Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 
--- a d v e r t i s e m e n t ---