Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 13

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 13

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 14

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 14

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 15

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 15

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 16

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 16

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 17
 FACULTY OF POLITICAL THEORY - Chuyên mục: Vấn đề khoan dung trong triết học nhân sinh Mỹ
 

FACULTY OF POLITICAL THEORY

0234.3825698
 

Deprecated: Function ereg() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/deptemplate/articles_view.php on line 34
Vấn đề khoan dung trong triết học nhân sinh Mỹ

Vấn đề khoan dung trong triết học nhân sinh Mỹ

NCS. Lê Văn Tùng (*)
HV Cao học khóa 2007-2009

Khoan dung và việc thực hiện văn hoá khoan dung có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy lùi xung đột nhằm kiến tạo hoà bình. Mỹ là nơi hội tụ của nhiều dòng văn hoá đan xen cùng tồn tại, đó cũng là nơi những khác biệt văn hoá đối thoại, hỗn dung, tiếp biến và cùng phát triển. Sự đối thoại đó tạo nên những sắc thái giá trị riêng có cấu thành truyền thống tinh thần của dân tộc Mỹ. Bài viết này bước đầu tìm hiểu khoan dung với tư cách là một chủ đề quan trọng trong triết học nhân sinh Mỹ.

1. Thuật ngữ khoan dung
          Thuật ngữ khoan dung trong tiếng Anh là tolerance, (tolérance tiếng Pháp) xuất phát từ chữ tolerare hay tolerantia trong tiếng La tinh, với nghĩa gốc là sự nhẫn nhục, sự chịu đựng. Người Mỹ còn sử dụng chữ bonevolence (nghĩa là thiện tâm, thiện nguyện) để chỉ về những hành vi bác ái (hành vi khoan dung, hành vi thiện nguyện). Trong cuốn Lịch sử triết học Mỹ (1946), Schneider coi thiện nguyện (bonevolence) là một trong những nội dung của tư tưởng khai sáng ở Mỹ. Ông cho rằng, Cotton Mather trong cuốn Những tiểu luận về làm điều thiện (Essays To Do Good) đã nói tới trách nhiệm của con người trong việc hành thiện (doing good) và chống lại sự đồi bại (vice)[1] Trong cuốn Giáo trình Tư liệu triết học phương Tây hiện đại, tác giả định nghĩa sự khoan dung: “Là ước muốn tốt dành cho người khác và thiện ý hướng về sự thiện đó một cách tích cực”, “Một thái độ chung của thiện ý trong việc đối xử với người khác”[2]
          Ở phương Tây, tư tưởng khoan dung được hình thành trên cơ sở di sản văn hoá Hy Lạp gắn với sự đề cao con người với tư cách là một sinh vật tôn giáo–chính trị, đồng thời với nó là sự ra đời của chủ nghĩa duy lý, chủ nghĩa cá nhân và đức tin Kitô giáo. Thời kỳ Trung cổ Tây Âu, đạo Kitô thống lĩnh mọi mặt của đời sống xã hội, do đó, khoan dung được xem xét chủ yếu trong trong lĩnh vực đạo đức (đạo đức khoan dung Kitô giáo). Vào thời kỳ Cận đại, đặc biệt là thời Khai sáng, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa duy lý, sự phát triển của các khoa học, những cải cách tôn giáo, sự chuyển biến có tính chất cách mạng từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, tư tưởng khoan dung được bàn luận sâu rộng vượt ra ngoài phạm vi đức tin tôn giáo. Khoan dung và việc thực hành nó trong các quan hệ dân sự thực sự trở thành chủ đề suy nghĩ của nhiều nhà triết học, nhà lý luận thời kỳ này, đáng chú ý là John Locke (1632-1740) và Denis Diderot (1713 - 1784).
          Mặc dù được đặt ra và bàn luận lâu đời như vậy, cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa nào về khoan dung được chấp nhận phổ biến. Giải thích cho điều này, UNESCO cho rằng, thuật ngữ khoan dung không chứa hết nội hàm mà nó phản ánh. Cách diễn giải của UNESCO nhấn mạnh sự tôn trọng, sự chấp nhận và sự thưởng thức những đa dạng, phong phú trong nền văn hóa thế giới, đồng thời là trách nhiệm, sự duy trì quyền con người, chủ nghĩa đa dạng (kể cả đa dạng văn hóa), chế độ dân chủ và luật lệ, thực hiện công bằng xã hội, sự tích cực của nhận thức và sự tự do trong việc giữ vững nhận thức của chính mình và thừa nhận quyền đó của người khác.
          Huỳnh Khái Vinh và cộng sự trong cuốn Bàn về khoan dung trong văn hoácũng đã nói tới khoan dung với tư cách là một loại nhận thức, quan hệ, hành vi (một khái niệm tổng hợp). Theo đó: “Tư tưởng khoan dung theo nghĩa rộng nhất phải là sự khoan hoà giữa cái tự nhiên và cái xã hội, trên cơ sở coi con người là chủ thể nhận thức và mục đích tối cao của quá trình lịch sử”[3]
          Như vậy, có thể thấy rằng, thuật ngữ khoan dung phản ánh nhiều loại mối quan hệ, đó là quan hệ giữa con người với chính mình, quan hệ giữa con người với xã hội và quan hệ giữa con người với giới tự nhiên.
          2. Triết lý khoan dung Mỹ
          Triết lý khoan dung Mỹ là một biến thể độc đáo của chủ nghĩa Mỹ. Ở đó có sự cộng sinh, tiếp biến của nhiều truyền thống tinh thần được đúc kết trong hơn 400 năm tạo dựng và phát triển của dân tộc Mỹ. Thông qua tinh thần khoan dung, nhân dân Mỹ đã nối kết và thâu hoá được những tham số văn hoá cực kỳ đa dạng, cực kỳ khác biệt thành một thực thể văn hoá linh hoạt, uyển chuyển, có khả năng thu hút thêm nhiều sắc thái văn hoá mới, phù hợp với sự phát triển khoa học.
          Truyền thống tự phê bình Mỹ xuất phát từ sự tự vấn của lương tâm trước Thượng đế, một mặt đưa lại ý thức cá nhân, một mặt tạo ra một cơ chế tinh thần sẵn sàng nhập cuộc, các bất cập được cá nhân với ý thức trách nhiệm cao tự giác sửa chữa. Tính cơ động của xã hội Mỹ nằm ngay trong sự tự hiểu biết, tự khẳng định, tự thực hiện và tự đánh giá của con người Mỹ. Trên cơ sở ấy, người Mỹ đã giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, cũng rất đề cao con người, nhưng đó là con người cá nhân, con người tự lập thân. Chủ nghĩa cá nhân với tất cả những mặt sáng và mặt tối của nó là một truyền thống độc đáo của Mỹ. Do dó, bàn về vấn đề khoan dung trong triết học nhân sinh Mỹ cần vạch rõ cơ sở hình thành, đặc điểm và sự kết nối của nó với các giá trị nhân bản khác. Chủ nghĩa cá nhân là một trong những giá trị hàng đầu của văn hoá phương Tây, cho nên, tiếp cận chủ nghĩa cá nhân là chìa khoá để mở ra hiểu biết triết học nhân sinh của họ, ở đây là triết học nhân sinh Mỹ.
          Theo một lôgíc tất yếu, chủ nghĩa cá nhân bao giờ cũng được khai sinh ra từ “chủ nghĩa cộng đồng” (communitarianism), ở phương Tây thời Trung cổ là “Công đồng tôn giáo”. Từ thời Khai sáng trở đi, niềm tin Kitô giáo (tin mình được Chúa cứu vớt, khoan dung, lên trời) thông qua thiết chế đại diện của Chúa trên trái đất là các Công đồng (giáo hội) dần dần được chuyển tải (thế tục hóa) thành niềm tin vào chính thể Cộng hòa. Cải cách tôn giáo cổ vũ mọi người được tự ý đọc và giải thích Kinh thánh, giáo hội không có độc quyền về tinh thần nữa, các con chiên tự mình tin vào Thượng đế thay vì phải thông qua chiếc cầu trung gian là diễn giảng của các cha cố. Chế độ dân chủ (tư sản), nói như Toqueville, đã phá tung chiếc xích kéo dài từ người nông dân tới nhà vua chuyên chế và đặt mỗi mắt xích ra một nơi. Chủ nghĩa cá nhân, trước hết là sự tuyên bố: mỗi người được quan hệ trực tiếp với Thượng đế, chịu trách nhiệm trước ông ta, ai cũng có thể lên trời chứ không riêng gì các thánh. Phải mất một thời gian dài để giải trừ việc thờ cúng Thượng đế trở thành thờ cúng bản thân mình. Con người tự làm chủ số phận của mình. Thái độ “ta đây”, tính chất “niên thiếu” của người Mỹ nằm ở đó.
          Chủ nghĩa duy lý, đặc biệt là duy lý khoa học phát triển, con người mất đi một trụ đỡ về tâm linh. Chủ nghĩa cộng đồng của “những đứa con của tự do” lập nên để tự cai trị lấy mình. Thượng đế đã lên trời để lại mặt đất cho những con người tự do cải tạo. Do vậy, tính độc đáo của chủ nghĩa cá nhân Mỹ là nảy sinh chủ yếu từ những cộng đồng tự do (những công xã) chứ không chỉ là những cộng đồng tôn giáo. Người Mỹ rất phù hợp với những không tưởng (utopia), nhưng đó không phải là những ảo tưởng mà là những không tưởng như là những lý tưởng dẫn dắt con người ra khỏi trạng huống hiện thời. Trong những không tưởng đó, ký ức công xã mà cái lõi của nó là tự do cá nhân (hiểu theo nghĩa tích cực) cứ vẫn sống đầy tai ương với mọi thực tế độc quyền đang diễn ra.
          “Tế bào” thứ hai cộng với “chủ nghĩa công xã” (communalism) trở thành hợp tử của chủ nghĩa cá nhân Mỹ là chủ nghĩa cô đơn và chủ nghĩa tuỳ thời Mỹ, cụ thể đó là biểu tượng về người hùng. Siêu nhân của Nietzsche rất hợp với người Mỹ.
          Người Mỹ rất thích những biểu tượng về “người hùng cô đơn” của thời kỳ chinh phục miền viễn Tây. Một chàng trai chăn bò với lý tưởng cao cả về công lý và công bằng, sẵn sàng ra tay giúp đỡ công xã, giúp đỡ mọi người mà không muốn nhận từ những người đã cứu giúp một sự mang ơn, đền đáp nào. Đồng thời với nó, là biểu tượng về “người hùng trinh thám” (thám tử), những người chấp nhận sự bất trắc của cuộc sống, có bản lĩnh cương nghị, khôn ngoan, dũng cảm và khát vọng về sự công bằng, họ sẵn sàng bênh vực, giúp đỡ những người kém hoặc không đủ sức tự vệ, xoá bỏ những suy đồi, ngang trái của xã hội. Cũng như những “người hùng cô đơn”, “người hùng trinh thám” ấy cũng không cần đến một sự đền ơn nào từ  phía những người họ từng giúp đỡ.
          Hai biểu tượng đặc thù trên đây của chủ nghĩa cá nhân Mỹ, vẫn là những con người hành động theo mệnh lệnh và chuẩn mực của “cái tôi”, nhưng đó là những hành động đem lại điều tốt đẹp cho người khác bằng một thiện ý tích cực, vô tư, giàu lòng vị tha. Những ý niệm này ngày càng được trân trọng và lưu giữ trong nhiều thế hệ người Mỹ, nó cấu thành một tinh thần Mỹ rất đặc sắc ở chỗ, con người không thể là một cá thể đơn độc, sống vô can đối với đồng loại, thụ động và thiếu trách nhiệm đối với hoàn cảnh, mà trong quá trình tự lập thân họ phải nhập cuộc vào xã hội, phục vụ xã hội. Điều này chứng tỏ rằng, chủ nghĩa cá nhân Mỹ càng phát triển thì nó lại càng có khả năng đi tới sự nhập cuộc vào xã hội, bởi vì, giá trị của cá nhân, của sự tự biểu hiện, của cá tính không thể tự khép kín trong chính nó, nó buộc phải tìm kiếm sự đánh giá của người khác, tức là, được thừa nhận của xã hội. Đó là một nghịch lý của chủ nghĩa cá nhân Mỹ. Mặt cực đoan của chủ nghĩa cá nhân Mỹ phải chăng chỉ là cái phần nổi của một “tảng băng” – tôn thờ nhân vị của người Mỹ, cái phần nổi ấy chỉ thể hiện ở lối sống mà thôi. Cái tinh thần lộ ra ở đây, chính là ý thức trách nhiệm đối với bản thân mình và người khác, người tự lập thân trước hết phải tự mình lựa chọn, quyết định mình sẽ làm gì, làm như thế nào, kế đó là tinh thần giúp đỡ người khác một cách vô tư. Cho nên, để tự lập thân con người phải khoan dung với chính mình, phải biết tha thứ cho chính mình. Bởi vậy, nếu tách rời chủ nghĩa cá nhân Mỹ khỏi các giá trị tinh thần khác sẽ chỉ thấy mặt ích kỷ, mặt thô bạo mà không thấy được mặt linh hoạt, tuỳ thời, nhân bản của nó. Chủ nhĩa cá nhân Mỹ chứa đựng yếu tố tích cực và tiêu cực của nó, nó vừa là chủ nghĩa đa dạng, sự đề cao ý thức trách nhiệm, sự tôn vinh quyền con người, chủ nghĩa lạc quan những cũng vừa là chủ nghĩa biệt lệ, tự do vô chính phủ, sự tàn bạo và chủ nghĩa định mệnh. Đấy là hai mặt của tấm huân chương của chủ nghĩa cá nhân Mỹ.
          Chủ nghĩa cá nhân Mỹ với cả hai dự trữ tinh thần là “chủ nghĩa công xã” và chủ nghĩa cô đơn, tuỳ thời không phải khước từ “cái khác mình”, bởi lẽ, sự tôn trọng, chấp nhận mình không thể tách rời khỏi điều đó ở tha nhân, ở xã hội. Như vậy, thái độ thoả hiệp phải được áp dụng để những sự tự biểu hiện không đi tới thủ tiêu chính nó. John Dewey, R.Rorty gọi tên một triết học không chối bỏ những giả định, không độc đạo, không cấm kỵ những phát biểu trái chiều, không đi tìm kiếm sự tương hợp (compatible) là để tránh những giáo điều có thể phát sinh.
          Như vậy, có thể thấy rằng, sự sàng lọc khắt khe của lịch sử kiến quốc đã để lại chủ nghĩa cá nhân với tất cả những biến thái của nó trị vì trong triết học nhân sinh Mỹ, rộng hơn là văn hoá Mỹ. Cách mạng Mỹ 1787, với việc tách tôn giáo ra khỏi nhà nước không phải để thần quyền và vương quyền của giai cấp phong kiến không khống chế được nhà nước như ở Pháp (1789) mà tách tôn giáo ra khỏi nhà nước làm nền tảng cho tự do tư tưởng. Để tôn giáo tự do phát triển, những người cha sáng lập nền cộng hoà Mỹ tin rằng, bằng cách để cho các tôn giáo phát triển, không tôn giáo nào hội đủ lực lượng và sức mạnh có thể liên minh với nhà nước.
          Chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa đa dạng đối thoại với chủ nghĩa cá nhân tạo nên một khung cảnh văn hoá đề cao cá nhân, khuynh hướng tự biểu hiện được thừa nhận ở nhiều lĩnh vực của đời sống. Tự biểu hiện ở đâu? Trong quá khứ lập quốc, mục đích của những người Thanh giáo sang Mỹ năm 1620 trên chiếc thuyền Hoa Tháng Năm không chỉ với mục đích đi tìn một nơi cho tự do tín ngưỡng của họ, mà còn tìm một nơi để họ có thể thể hiện chính bản thân mình. Nó cũng được phát triển trong diễn trình khai phá, chinh phục miền viễn Tây sau đó. Tự do cá nhân trong các “cộng đồng không tưởng” (Utopian communities) ở Mỹ đã chứng minh rằng, tự do ấy được đồng nghĩa với tự do sáng tạo, là sự phát hiện của tính chủ thể, chẳng hạn, người ta đã du nhập và phát triển môn tốc ký, chế tạo ra thắt lưng an toàn cho trẻ em khi ngồi ghế hoặc đi xe, hoàn thiện chiếc xe đạp, sáng chế ra quán ăn tự phục phụ (Cộng đồngThời hiện đại).
          Nếu đi vào văn hoá đại chúng Mỹ hiện đại sẽ thấy sản phẩm của nó cũng hết sức độc đáo, từ món trộn sa lát, nhạc jazz, hài kịch âm nhạc (musical comedy), hip hop, nghệ thuật thị giác (optic giác thị), múa hiện đại phá bỏ những chuẩn mực cổ điển và Thanh giáo, tái khám phá trực tiếp tình cảm con người, phát hiện lại thân thể con người cho tới kiến trúc dân dụng, đô thị và shopping mells hậu hiện đại (postmodernism) vùi sức tưởng tượng cá nhân vào những thiết kế sáng tạo, nhấn mạnh cái đẹp cục bộ vì cột bê tông cốt thép trụ lực được dồn vào bên trong, mọi trang trí nội và ngoại thất mặc sức thể hiện. Người ta nói, chủ nghĩa hình thức đã bị chủ nghĩa chức năng lãng mạn đánh bại vì mục đích quyết định thiết kế, mục đích đó là ở con người, do con người và vì con người. Tất cả những cái đó không phải là những “vật lai”, những chiết trung vì nó cũng vay mượn, trà trộn nhiều thứ nhưng có sàng lọc, có chủ kiến và được đặt trên một nền tảng triết học là chủ nghĩa hiện sinh thực dụng. Đó là sự tự biểu hiện trong giao tiếp liên văn hoá – đa văn hoá (acculturation – multicultural).
          Chủ nghĩa đa dạng Mỹ (American pluralism) là hệ quả của tình trạng nhập cư ồ ạt. Khái niệm đa dạng phản ánh nước Mỹ với tư cách là một “xã hội hợp chúng” (nơi hỗn chúng), nó liên quan tới cách định nghĩa nước Mỹ và dân tộc Mỹ. Sở dĩ đây là một biểu hiện của tinh thần khoan dung Mỹ vì chúng cho thấy cách mà người Mỹ chấp nhận những khác biệt có phê phán, biết thâu hoá những khác biệt đó để sáng tạo ra cái đặc trưng riêng cho mình. Hữu Ngọc cho rằng, “Lịch sử nước Mỹ là sự nối tiếp của những lịch sử thoả hiệp giữa các thành tố rất khác nhau”[4] Tại sao lại như vậy? Có hai cách tiếp cận chủ yếu khi định nghĩa về dân tộc Mỹ. Mục đích của nó là trả lời cho câu hỏi: cái gì liên kết người Mỹ lại với nhau để kiến dựng một quốc gia siêu cường? David Potter đề xuất chủ thuyết phồn thịnh (abudance) trong cuốn Những con đẻ của phồn thịnh (People of Plenty) nhằm lý giải cho sự giàu có của nước Mỹ. Cần chú rằng, trước khi Potter đề xuất chủ thuyết này đã có ba cách lý giải về nguồn gốc sự giàu có của nước Mỹ. Trước hết là ý đồ của những người Thanh giáo thời lập quốc muốn xây dựng một thành phố của Chúa trên trái đất (A city upon a hill) theo hợp đồng mà họ ký với Chúa, tiếp đó là cách lý giải của Crevecour nhấn mạnh ý chí của những người bỏ nước ra đi không mong ngày trở về nên chỉ gắn bó với hiện tại và tương lai, người ta được làm chủ số phận, tự do làm giàu trên mảnh đất mầu mỡ, từ thân phận tôi tớ (con số không về địa vị) vươn lên một trại chủ; Tocqueville cho rằng, chủ nghĩa cá nhân, tinh thần độc lập, chủ nghĩa bình quân (kiểu Mỹ), chạy theo lợi nhuận, năng động, sùng bái lao động và thành đạt, mê tín chuyển động và tốc độ, đầu óc sáng tạo, chuộng thực tiễn hơn lý thuyết là những nguyên nhân chính dẫn tới sự giàu có và sức lôi cuốn của nước Mỹ. David Potter đề nghị, nên xem xét khái niệm phồn thịnh ở cả hai khía cạnh: sự giàu có về tài nguyên (thiên nhiên và con người) và cách khai thác tài nguyên. Ông cho rằng, sự phồn thịnh ảnh hưởng tới tính cơ động về địa lý về xã hội, là điều kiện cho sự bình đẳng về cơ hội, “vì bình đẳng về cơ hội sẽ chỉ là bánh vẽ nếu chẳng có gì để chia chác”[5]. Potter cho rằng, phồn thịnh đẻ ra chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến một ý thức tập thể đặc biệt. Cái đặc biệt là ở chỗ, con người đánh cuộc với cuộc đời, họ ném mọi nỗ lực vào sự thành đạt phía trước, vì tài nguyên và nỗ lực là vô hạn. Từ đó ông kết luận, phồn thịnh sẽ đưa lại trình độ sung túc về vật chất, từ đó, giải phóng cho tinh thần nghĩ đến những việc khác, ông viết: “Phồn vinh là phương tiện để bảo vệ tự do và tự do cho phép bảo đảm phồn vinh”[6]
          Cách lý giải thứ hai thuộc về Chủ thuyết đa dạng bất định được Michael Kammen đề xuất trong cuốn Một dân tộc nghịch lý (A People of Paradox). Tham vọng của ông là nối kết lại những thái cực đối lập trong đời sống Mỹ. Chìa khoá đó ông gọi ‘tính lưỡng thể” (amphibian). Lưỡng thể đó là gì? Đó là tinh thần lập hội–tinh thần tự do thể hiện, thu hút–chối bỏ, bản năng tập quyền–chủ nghĩa cá nhân, tự nguyện–bắt buộc, tự trị-thoả hiệp, can thiệp–thả lỏng, bành trướng–biệt lập, chủ nghĩa lý tưởng–chủ nghĩa thực dụng, tôn trọng tự do cá nhân-siết chặt kỷ luật, chủ nghĩa định mệnh–chủ nghĩa lạc quan, con Đại bàng–cành Ôliu và những mũi tên. Theo Potter: “những phạm trù đó khó tương hợp nhưng lại không thể phân ly, cùng chung sống, tạo nên một sự mất cân bằng thuận lợi để tính năng động phát huy”[7] cho nên, giải quyết sự đối nghịch của chúng, liên kết chúng lại làm thành sự đa dạng bất định. Với lập trường kinh nghiệm chủ nghĩa và phi trí tuệ (như ông thừa nhận) Kammen nhìn thấy “giải phân cách” trong khu rừng văn hoá Mỹ, chúng che khuất các lối đi và ngăn chặn sự xâm hại lẫn nhau giữa các cá nhân.
          Chủ nghĩa đa dạng ngự trị khắp ngõ ngách xã hội Mỹ, từ địa lý, sinh thái, chủng tộc, kinh tế, chính trị, ngôn ngữ, tư tưởng cho tới văn hoá và lối sống.
          Nói về khoan dung Mỹ không thể không nói tới vấn đề nhân quyền. Nước Mỹ nổi tiếng một cách đáng buồn về vấn đề quyền con người (Human Rights), vì không ở đâu, quyền con người lại bị chà đạp khủng khiếp hơn ở Mỹ. Cần thấy rằng, châu Âu tìm thấy châu Mỹ với mục tiêu tìm kiếm gia vị cho bữa ăn một cách tình cờ, đó là một nhầm lẫn lịch sử (Columbus lầm tưởng Mỹ là Ấn Độ). Những thổ dân da dỏ hiếu khách bị người da trắng Ăng lô – Xắc xông theo Tin lành gọi là: “những con của Babel, bọn Xa tăng hung ác, con cháu của Israel, của những người Ai Cập, người Etrusques, người Hung nô, người Mandingues, người Tacta..., những người mà lịch sử của họ vừa đơn giản vừa kỳ lạ”[8]. Trong ký ức của người nô lệ châu Phi và người da đỏ Mỹ thì những gả cha cố hành hương và con cháu họ là những tên “găngxtơ”(lũ cướp). Họ phát biểu rằng, “bản chất của người da đỏ là lười biếng” vì họ chỉ xây được những công trình bằng đất. Berard Vincent viết: “Các đức tính (thường là của Thanh giáo) mà đạo kytô địa phương đề xướng chỉ liên quan đến thế giới da trắng, và lòng khoan dung không phải là điểm mạnh của nhiều giáo phái khác từ châu Âu đến. Phải qua không ít cuộc thanh lọc, xét xử phù thuỷ (như ở Salem năm 1692) và vài vụ treo cổ tín đồ Quaqers để cho sự khôn ngoan cuối cùng thắng thế và để cho nước Mỹ, sau Thuỵ Sĩ và Hà Lan trở thành một nơi ẩn náu của tự do tôn giáo”[9].
          Người nô lệ da đen, người tôi tớ theo hợp đồng, người da đỏ, người phụ nữ phải trải qua một quá trình đấu tranh gian khổ để giành được quyền bỏ phiếu. Trong quá khứ, phụ nữ da den và da đỏ bị hãm hiếp, đánh đập tàn ác, bị giết là chuyện bình thường. Bạo lực, kỳ thị chủng tộc, tôn giáo còn chưa chấm dứt trong tâm hồn của nước Mỹ. Có học sinh Do thái về nhà phàn nàn với mẹ rằng, bạn của chúng tố cáo “mày đã giết Jésus-Christ, mà con chẳng biết ông ấy là ai”.
          Đấu tranh để thực thi quyền con người một chương dài của lịch sử nước Mỹ. Nó biểu hiện rất đa dạng, bắt nối và bùng cháy cùng nhiều phong trào trong thế kỷ 20, thành tựu thu được là rất đang kể. Chủ nghĩa nữ quyền Mỹ cho thấy một cách tiếp cận ở lập trường “giống” (gender, giới) khi muốn đi tìm một bộ chứng cứ xác nhận sự bình đẳng cho đàn bà trước một truyền thống tinh thần đầy ắp những thất bại lịch sử của họ, trước quyền lực “dương vật trị” (từ của Freud) của người đàn ông. Ở Pháp, Simon de Beauvour- người bạn thâm giao của thạc sĩ J.P.Sartre cũng viết hai tập “Giới nữ” để dò xét lại vai trò lịch sử của người đàn bà, Bà muốn giành lại vị thế đã bị lịch sử văn hoá phương Tây vùi vào số phận nâng khăn sửa túi-làm dáng-đỏng đảnh-đái ngồi không phải chỉ đấu tranh để họ được phép lui tới hòm phiếu mà để người đàn bà được tôn trọng với tư cách là một hiện hữu – một cá nhân, một nhân vị tự do – vốn bị lịch sử che đậy trong những phạm trù văn hoá của đấng mày râu. Còn ở Mỹ, số phận của người phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ không phải da trắng, không thuộc Ăng lô Xắc xông và theo Tin lành cực kỳ bi thảm. Phụ nữ Mỹ đã đấu tranh để được quyền lao động, học tập, bỏ phiếu, tham gia chính quyền (thậm chí là đi quân dịch), chống bạo hành, chống phân biệt đối xử, đòi người đàn ông chia sẻ việc nhà và chăm sóc con cái.
          Mỹ là nước bước qua nền văn minh hậu công nghiệp sớm nhất, cho nên, sự tan rã của “gia đình hạt nhân” cũng diễn ra mạnh mẽ nhất. Nền văn minh đó cần con người cực kỳ khôn ngoan, sức mạnh cơ bắp của đàn ông sẽ có robot, máy nâng thuỷ lực thay thế. Quyền lực cơ bắp tiêu tan cùng với chứng tiểu đường và béo phì ở Mỹ chia đều cho các giới (nam, nữ, gay, lesbian, không xác định). Người phụ nữ đàng hoàng bước vào nhiều diễn đàn của thế giới hiện đại. Lần đầu tiên người ta chứng kiến thuật ngữ tính nữ (feminity) đi vào những cuốn từ điển, phụ nữ đã có lý luận, có khoa học độc lập Nghiên cứu phụ nữ (Women’s Studies), không còn là “người khác”, là phạm trù “chủ quan” nữa. Vậy thì phải thêm vào cơ cấu huyền thoại Mỹ một khuôn mặt nữa: nữ trinh thám, nữ thám tử, minh tinh màn bạc, nữ anh hùng. Sự bình đẳng và cá nhân hoá thể hiện mạnh mẽ nhất ở thể thao, thẩm mỹ, âm nhạc, tức những lĩnh vực của văn hoá thứ cấp. Đó là một sự kết hợp độc đáo giữa chủ nghĩa Thanh giáo và “chủ nghĩa tự yêu chính mình”. Người ta gọi đấy là những biểu hiện của nền kinh tế hậu hiện đại phụ nữ hoá. Nhà sử học Gerda Lerner nói: đó là chủ nghĩa “phụ nữ là trung tâm”[10]. Chủ nghĩa nữ quyền đã đóng vai trò của nó, xã hội Mỹ bước vào giai đoạn hậu-nữ quyền. Esther Wanning cho rằng, phụ nữ Mỹ, về lý thuyết là bình đẳng với nam giới, nhưng nam giới vẫn được coi trọng hơn. Bà viết: “người ta chỉ trả cho phụ nữ trung bình 70 xu tương ứng với 1 đô la mà đàn ông được trả”[11]. Tuy nhiên, ở đây có hai thái độ, coi trọng thực tế và coi trọng danh nghĩa về vai trò của người phụ nữ trong xã hội Mỹ. Coi trọng danh nghĩa (ý thức bình đẳng) làm cho nước Mỹ có được bộ mặt kính trọng người phụ nữ, trong văn hoá ứng xử, người phụ nữ được hết mực đề cao, đàn ông bình đẳng với nhau trong tư cách kinh tế, công dân.
          Chúng ta nói, chủ nghĩa nữ quyền đã bị vượt qua tức là muốn nói tới các phong trào đòi thực hiện những quyền khác như, quyền của người đồng tính, bảo vệ môi trường, chống chiến tranh, bảo vệ động vật hoang dã. Cuộc chiến tranh xâm lược ViệtNam của đế quốc Mỹ cũng được nhiều phong trào thời kỳ này hưởng ứng.
          Tinh thần khoan dung Mỹ còn thể hiện sâu sắc trong ý thức chính trị quốc dân, tinh thần thiện nguyện và chủ nghĩa yêu nước. Những truyền thống tinh thần này được đun nấu trong “cái lò đúc” của các dân tộc nhập cư, chủ yếu trong thời kỳ khai phá miền viễn Tây, được tăng cường trong thời kỳ Nội chiến, chúng ẩn trong trong chủ nghĩa cá nhân và đôi khi bị che khuất bởi chủ nghĩa biệt lệ Mỹ. Vậy, mặt khoan dung của nó ở đâu? Nước Anh từng nổi tiếng với chế độ đại nghị, nước Pháp với “Tự do, bình đẳng, bác ái”, còn nước Mỹ là nền dân chủ tư sản. Trong những dự trữ tinh thần của văn hoá Mỹ, ý thức chính trị quốc dân cùng với chủ nghĩa cá nhân và tín điều Kinh thánh tạo nên một nét đặc thù cho triết lý khoan dung Mỹ.
          Ý thức chính trị quốc dân hay ý thức công dân vào nền cộng hoà về căn bản được xác lập trên những nguyên tắc thoả hiệp và tinh thần “dấn thân dân sự”, đó là kỳ vọng vào một hình thức chính thể mà ở đó nhân dân nắm trong tay hoàn toàn hay một phần quyền lực tối cao. Hai khái niệm “lò đúc” và “đĩa nộm” đều phản ánh rõ tính chất của những nguyên tắc và tinh thần đó. Ý thức chính trị quốc dân còn thể hiện ở lòng tin không lay chuyển vào tính tối cao của hiến pháp và pháp luật một cách trực tiếp, cụ thể. Không một công dân nào phạm tội mà không được xét xử công khai và nghiêm minh trước pháp luật. Đối với công dân, cho phép làm tất cả những gì mà luật không cấm; đối với quan chức, chỉ được làm những gì mà luật cho phép. Tuy nhiên, người Mỹ theo chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cá nhân không đặt lòng tin quá lớn vào chính phủ, đó không phải là một thứ tự do cực đoan được luận ra từ lối suy lý duy danh, mà vì họ xem chính phủ như là một phương tiện mà họ bất đắc dĩ phải dùng đến để đảm bảo việc mưu cầu hạnh phúc. Mặc dù, thừa nhận nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số nhưng phải thêm vào đó một số cơ chế giám sát và điều chỉnh để chống chuyên quyền, ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp phải đối trọng và kiềm chế, không nhánh nào thao túng và lũng đoạn được nhánh nào. Người Mỹ cho rằng, pháp luật là một trọng tài đảm bảo cho quyền lợi của con người.
          Tuy nhiên, ý thức chính trị quốc dân còn được trợ lực bằng nhiều gia tài tinh thần khác. Giấc mơ Mỹ (American Dream), chủ nghĩa bình quân, tính cơ động xã hội và sự phình ra của giai cấp trung lưu. Laurend Cohen – Tanugi viết: “Những người di dân từng chạy trốn các chế độ quân chủ chuyên chế và những sự ngược đãi tôn giáo ở Cựu lục địa, đã rất quan tâm đến việc thành lập một nền cộng hoà dựa trên lòng khoan dung, trong đó quyền lực của nhà nước bị giới hạn và kiểm soát, các quyền và các tự do tự nhiên của con người được thực sự đảm bảo”[12].
          Chủ nghĩa cá nhân phô bày con người tự lập thân Mỹ với đầy những xung lực sáng tạo, chủ nghĩa tự do cổ vũ sự tự biểu hiện (tự do bán sức lao động, tự do kinh doanh, tự do trong việc sáng tạo và lựa chọn cách sống, tự do phát minh ra mình). Chủ nghĩa thực dụng với tuyên bố chân lý ở hiệu quả của hành động (hành vi) thông qua tín điều Kinh thánh, hệ quả đó thuộc về bản tính thẩm mỹ, đạo đức, chính trị, tôn giáo (tức là rất nhân bản) chứ không đơn thuần gói lại trong chủ nghĩa vật chất ở tinh thần chủ nghĩa tư bản như Weber nói. Tất cả những cái đó tạo nên một bộ mặt cực kỳ độc đáo trong con người tự lập thân Mỹ, ở đó, chủ nghĩa cá nhân không bị dập tắt mà lại phát triển trong sự “hài hoà”, trong sự dịch chuyển “những cân bằng tạm thời” dưới tác động điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản hung hăng. Tại sao lại như vậy? Trong buổi đầu lập quốc, ý tưởng cộng hoà là một lý tưởng mong manh tưởng chừng không thể trở thành sự thực. Con dấu đầu tiên của nước cộng hoà Mỹ phản ánh một lực liên kết còn quá yếu, chế độ nô lệ ở miền Nam vẫn chưa được xoá bỏ, rất nhiều khác biệt về lợi ích giữa các bang. Thống nhất được một đất nước nhiều bang và vực dậy nó sau Nội chiến dĩ nhiên không thể bỏ qua vai trò của những người cha sáng lập tài ba. Nhưng họ làm được điều đó bởi nhân dân Mỹ đã nom thấy cơ hội để phất lên không phải để báo thù chính quốc mà vì họ thấy số phận của họ sẽ thực sự được cải thiện. Một nhà khoa học Việt Nam viết: “Chiếc Melting pot (lò đúc) tuy chứa nhiều cộng đồng, nhưng tất cả được đúc thành liên bang, cho nên chính trị quốc dân là quý hơn cả (thể hiện ở chính đảng tầm cỡ toàn quốc, ở chủ nghĩa tổng thống đảm bảo thế cân bằng về lợi ích cho quốc dân)”[13].
          Ở đây không nên đánh đồng chủ nghĩa cá nhân Mỹ với thái độ ích kỷ, vị kỷ (dù rằng những cực đoan đó hiện diện ở nhiều bình diện). Vì nếu nước Mỹ được cấu tạo bởi duy nhất thứ chủ nghĩa cá nhân đó thì khó mà ổn định được, chưa nói tới chuyện vươn lên làm chủ khoa học và công nghệ hiện đại. Chủ nghĩa cá nhân ấy là chỉ một tính cách, một xu hướng là người ta chỉ có thể phục vụ tốt nhất cho lợi ích của mình, cho xã hội khi nào anh ta được độc lập, tự do đối với xã hội, rằng chỉ có thể cứu vãn được các giá trị khi anh ta sống tách khỏi mọi người trong xã hội. Con người đó là con người đang sống với địa vị thiêng liêng cao quý mà tạo hoá ban chó nó, không thể xâm phạm được, nhưng con người đó không tách khỏi xã hội, không thù địch với xã hội, không chống lại xã hội vì nếu thù địch, chống lại xã hội thì nó đã tự tay xoá bỏ địa bàn hiện hữu của mình. Con người đi vào tư cách công dân, tư cách hội viên, đoàn viên, đi vào nhà nước, vào xã hội dân sự không phải bằng tất cả thân xác, tâm linh, nhân vị tức là bằng tất cả sự tồn tại của mình, nó “giữ” lại cho mình số phận, sứ mạng, vị thế bản thân, làm một nhân vị tự do và độc đáo. Tuyên ngôn độc lập (1776) và Điển chương về các quyền lợi (1791) nêu lên một cách không giới hạn các quyền của mỗi con người không phải với tư cách công dân mà với tư cách con người. Vì thế, người Mỹ theo chủ nghĩa cá nhân luôn canh chừng một chế độ chuyên quyền. Phân tích này cũng cho thấy, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa nhân vị Mỹ thực sự là những triết học hướng đạo cho con người tự lập thân Mỹ, là sự biểu hiện tập trung của tinh thần Mỹ.
          Như vậy, chủ nghĩa cá nhân Mỹ đưa lại một sự thừa nhận sự đa dạng của các phương thức hiện hữu (ở con người) đấy là một biểu hiện chiều sâu của triết lý khoan dung Mỹ. Sự nhập cuộc vô tư, giàu lòng vị tha của con người đó vào các mục tiêu xã hội, mục tiêu cộng đồng sẽ cho thấy một chiều cạnh nữa của khoan dung – tinh thần thiện nguyện. Tocqueville là người sớm nhìn thấy chiều cạnh này khi ông đi nghiên cứu hệ thống nhà tù ở Mỹ vào thời điểm nước cộng hoà Mỹ mới ra đời, đó là một xã hội với con người đam mê dấn thân cho sự thịnh vượng công xã với một suy nghĩ cởi mở, tươi trẻ. Người Mỹ trong những thập niên ấy tin rằng, sự thịnh vượng của công xã chỉ có thể có được khi mỗi cá nhân được tự do lao động sáng tạo, được góp sức một cách tự nguyện. Một sự tự biểu hiện để thoát khỏi “vỏ ốc” của cá nhân, một sự tìm kiếm các giá trị, các đánh giá từ phía cộng đồng đối với những tầng bậc hiện hữu của con người. Về sau, nghịch lý này đã được chủ nghĩa hiện sinh Mỹ chỉ rõ, “hoặc là “tự do không tồn tại trong thế giới chúng ta”, ở đây là thế giới của chủ nghĩa công nghiệp, hoặc là “tôn trọng tự do của tha nhân là một phạm trù trống rỗng”[14].
          Tinh thần thiện nguyện là biểu hiện độc đáo ý thức trách nhiệm của chủ nghĩa cá nhân Mỹ. Nó được xem là chủ nghĩa cá nhân có trách nhiệm, vì trong các khuynh hướng tự do biểu hiện bản thân chứa đựng một dạng tự biểu hiện bản thân bằng cách quan tâm đến người khác. Đó không phải là sự hy sinh lợi ích cá nhân cho một tập thể vô danh nào mà là sự biểu hiện của cá nhân, tự mình và vì mình nhưng nhập cuộc vào những mục tiêu con người, cộng đồng. Người Mỹ gọi đấy là tinh thần tham gia tự nguyện (benevolence), nghĩa là, các cá nhân tự mình tham gia các hoạt động công tác xã hội mà không có một mệnh lệnh hành chính nào ép buộc.
          Ý thức trách nhiệm của nó ở đâu? Người Mỹ theo chủ nghĩa cá nhân luôn có xu hướng chống lại các mệnh lệnh quyền lực, họ rất ít quan tâm tới các chỉ đạo của các quan chức trung ương, vì cho rằng, nó không ảnh hưởng gì nhiều đến đời sống của họ, cái mà họ quan tâm là những liên hệ trực tiếp hàng ngày. Đối với họ, ai làm tổng thống cũng được nhưng đối với người hàng xóm thì phải hiểu tường tận, vì người hàng xóm là người có quan hệ trực tiếp hàng ngày với họ. Chủ nghĩa địa phương nằm trong sâu thẳm con người Mỹ, nhưng không đồng nghĩa với đầu óc cục bộ, bè đảng.
          Tinh thần thiện nguyện của người Mỹ có nguồn gốc sâu xa từ đạo đức Thanh giáo của những người đầu tiên bỏ xứ ra đi tới lập nghiệp ở Mỹ, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trợ giúp người nghèo và những người không may mắn.
          Ở một xứ sở chưa có chính quyền, ngoài việc tự tổ chức đời sống của mình, họ phải tự tổ chức ra các công xã, tham gia các hoạt động của tập thể. Tinh thần thiện nguyện rõ ràng bắt nguồn từ kiểu tổ chức xã hội theo hình thức dân chủ trực tiếp, ở đó đề cao trách nhiệm của cá nhân, không đổ lỗi trách nhiệm cho một tổ chức vô danh nào, những cá nhân tự mình làm những việc có ích. Những công xã do cá nhân tự tổ chức ra đó thực ra chỉ là những câu lạc bộ của những người đàn ông và đàn bà có chung sở thích, lợi ích hoặc cùng làm một việc nhất định, họ sống theo mình nhưng cũng muốn dành cho người khác những điều tốt đẹp, một phần vì ý muốn được vẻ vang, được tôn vinh, nể trọng, một phần vì họ muốn dành cho người khác những thiện ý vô điều kiện.
          Tocqueville cũng nhận ra điều này khi ông trải nghiệm ở Mỹ. Ông cho rằng, ở Mỹ, cá nhân tự tổ chức ra các câu lạc bộ, các hội, họ làm thay chính quyền nhiều việc, bất cứ ở đâu, hễ có chính quyền đụng vào là người ta không thích, người ta muốn tự mình làm những điều có ích mà không cần một mệnh lệnh điều động nào.
          Tinh thần thiện nguyện cũng phát triển trong một số giáo phái tôn giáo ở Mỹ, chẳng hạn, Hội của những người Bạn (Society of Friends, giáo phái Quaker), một giáo phái do một người thợ giày George Fox lập ra năm 1652, ban đầu là với mục đích chống lại Quốc giáo Anh (Anglicanism). Hội này rất đề cao sự thuần khiết của tâm hồn, chống chiến tranh, chống chế độ nô lệ và hành động từ thiện. Năm 1917, Hội này lập ra Ủy ban phục vụ những người bạn Mỹ, họ đã cử người đi giúp đỡ khắp thế giới vì mục tiêu nhân đạo, tham gia hoạt động chống chính phủ Mỹ tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Vì những nghĩa cử cao đẹp đó, họ đã được trao tặng giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1947.
          Trong đời sống hàng ngày, tinh thần thiện nguyện của người Mỹ thể hiện rất đa dạng và sinh động, Esther Wanning viết: “Đại bộ phận người Mỹ làm công đức cho các hội từ thiện về hết thảy mọi việc, từ việc cứu trợ rừng cho đến các công trình nghiên cứu y học”[15]. Bà cho rằng, ở Mỹ, nhiều người đói khổ vẫn được các cơ sở của nhà thờ nuôi dưỡng, nhiều bệnh viện, nhà ở cũng được xây dựng để dành cho những người tàn tật, vô gia cư, thế nhưng những hoạt động từ thiện đó lại không chứa đựng một mục đích tôn giáo rõ ràng nào.
          Tinh thần thiện nguyện trên đây thể hiện rất rõ trong các thời kỳ khủng hoảng về kinh tế của nước Mỹ. Sự bất trắc về cuộc sống và phân hoá giàu nghèo đẩy vô số người Mỹ thiếu may mắn vào tâm trạng thất vọng, trong khi chính phủ liên bang chỉ vung tiền để cứu sống các công ty tư bản của nó thì chỉ có sự cưu mang vô tư của xã hội mới giúp được họ qua nghịch cảnh. Có một tính cách rất đặc biệt của người Mỹ là, khi đã bị mất việc lập tức đi tìm việc làm mới, nhiều người trong số họ không ngồi đó chông chờ vào các khoản trợ cấp mất việc, văn hoá Mỹ rất ca ngợi việc tiêu dùng những đồng tiền do lao động tự mình làm ra, việc tiêu những đồng tiền không do mình làm ra bị xem thường, vì người Mỹ nghĩ rằng, người đó không có khả năng tự lập, mà một người không tự lo được cho mình thì cũng không có khả năng lo được cho người khác.
          Tuy nhiên, tinh thần thiện nguyện của người Mỹ đôi khi bị giai cấp tư sản cầm quyền lợi dụng vào mục tiêu chính trị, trong Văn minh Hoa Kỳ, Fichou cho rằng, nhiều thanh niên tình nguyện Mỹ tham gia trợ giúp tại các nước kém phát triển, “họ làm việc tận tâm mà không biết mình đang tham gia một kế hoạch bành chướng quốc gia về văn hoá và thương mại”[16]. Fichou cũng cho rằng, nhiều dòng họ đại diện cho các tư bản giàu kếch xù ở Mỹ như Carnegie và Rockefeller thi nhau làm từ thiện, họ được người Mỹ kính trọng vì tạo ra nhiều công ăn việc làm, nhưng cũng có dòng họ làm từ thiện vì muốn được lưu danh tương truyền, ông viết: “Lòng từ bi lúc cuối đời của các nhà tỷ phú ấy làm thiên hạ quên đi phần nào những xấu xa lúc họ mới khởi phát”.[17]
          Chủ nghĩa yêu nước Mỹ (American patriotism) là một thành quả của chiến tranh giải phóng thuộc địa. Nó liên quan tới quá khứ của những người bị ruồng bỏ, tù đầy, cướp đoạt ruộng đất, đánh thuế không cần đại diện, cấm đoán tự do kinh doanh, đàn áp tôn giáo. Tất cả những vết tích, những cảm thức đau buồn của một quá khứ bất hạnh đó được khơi dậy bởi Lẽ phải thông thường (Common sense, Đồng cảm) của Thomas Paine và Người liên bang (The Federalist Papers) của James Madison để hội tụ lực lượng cho cuộc vận động vì một cuộc chiến tranh vĩ đại chống thực dân của những người không phải là đồng bào. Bởi thế, trong buổi sơ khai, nó là sự cộng hưởng giữa tình cảm yêu nước, ý thức chống đối, ly khai với tinh thần liên bang. Dân tộc Mỹ không có bề dày về lịch sử nhưng điểm độc đáo của chủ nghĩa yếu nước Mỹ là nó được nảy sinh trong một bối cảnh của tinh thần khai sáng rất hào phóng. Nó cũng được thử thách trong thời kỳ Nội chiến. Đánh dấu sự ra đời của một dân tộc hỗn tạp (mixed nation). Chủ nghĩa yêu nước Mỹ là một tinh thần ái quốc cụ thể, tinh thần thực tế và đề cao hành động trách nhiệm, được lượng hoá bằng công sức đóng góp cụ thể (bằng tiền).
          Chủ nghĩa yêu nước Mỹ bắt nối với nhiều truyền thống tinh thần khác để trở thành một tính cách dân tộc. Cuộc tranh luận về nó liên quan tới các uy tín mà xã hội gán cho. Người Mỹ rất coi trọng tiền và danh dự, cho nên đóng thuế cao, tạo được nhiều công ăn việc làm, tham gia phản biện các chính sách xã hội được coi là những biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước. Về mặt hình thức, chủ nghĩa yêu nước thể hiện ở việc đọc Lời thề trước quốc kỳ và hát đúng chính tả bài Lá cờ điểm sao (Star Spangled Banner, quốc ca Mỹ).
          3. Kết luận
          Từ những trình bày trên đây, có thể thấy rằng chủ đề khoan dung quán xuyến nhiều chiều cạnh của thực tiễn nhân sinh xã hội Mỹ. Tất cả những truyền thống tinh thần kết bện với nhau tạo nên một chủ nghĩa đa dạng, sự thống nhất được quy về chủ nghĩa cá nhân và được phát biểu bằng chủ nghĩa hiện sinh-thực dụng, nó cũng đề cao việc duy trì các quyền con người, ý thức trách nhiệm, tôn trọng tính độc lập cá nhân và tinh thần thiện nguyện. Nó là một phần tâm hồn của con người tự lập thân Mỹ. Nhưng lịch sử Mỹ đã chứng minh rằng, bất khoan dung cũng là một tín điều của tinh thần Mỹ. Đó là một nghịch lý, một sự thật có thể được trí nhớ viết ra bất cứ lúc nào. Khoan dung sẽ không thể trở thành một giá trị nhân bản phổ biến và thực chất nếu như trong xã hội còn đầy ắp những áp bức, bóc lột và bất công.


(*) Khoa Giáo dục chính trị, Đại học Đồng Tháp.
[1]Herbert.W Schneider (1957), A history of American philosophy, Colombia University Press, p.20
[2] Nguyễn Tuệ Nguyễn (chủ biên)(2003), Tư liệu triết học phương Tây hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.33-34
[3] Huỳnh Khái Vinh (chủ biên) (2004), Bàn về khoan dung trong văn hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.61
[4] Hữu Ngọc (2006), Hồ sơ văn hóa Mỹ, NXB Thế giới, Hà Nội, tr.142
[5] Jean Pierre Fichou (1998), Văn minh Hoa Kỳ, NXB Thế giới, Hà Nội, tr.26
[6] Jean Pierre Fichou (1998), Văn minh Hoa Kỳ, NXB Thế giới, Hà Nội, tr.27
[7] Jean Pierre Fichou (1998), Văn minh Hoa Kỳ, NXB Thế giới, Hà Nội, tr.37
[8] Dẫn theo Anniel Lannkh, Marie France Toinet (1995), Thực trạng nước Mỹ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.88
[9] Anniel Lannkh, Marie France Toinet (1995), Thực trạng nước Mỹ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.94
[10] Dẫn theo: Eric Foner (2003), Lịch sử mới của nước Mỹ, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.393
[11] Esther Wanning (1995), Sốc văn hóa Mỹ, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.280
[12] Anniel Lannkh, Marie France Toinet (1995), Thực trạng nước Mỹ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.156
[13] Đỗ Lộc Diệp (chủ biên) (2003), Mỹ - Âu – Nhật: Văn hóa và Phát triển, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.260
[14] Bùi Đăng Duy, Nguyễn Tiến Dũng (2006), Triết học Mỹ, NXB Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, tr.198
[15] Esther Wanning (1995), Sốc văn hóa Mỹ, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.183
[16] Jean Pierre Fichou (1998), Văn minh Hoa Kỳ, NXB Thế giới, Hà Nội, tr.73
[17] Jean Pierre Fichou (1998), Văn minh Hoa Kỳ, NXB Thế giới, Hà Nội, tr.75

 

Nguồn: Tạp chí Châu Mỹ ngày nay


 Khoa Lý luận chính trị  20-03-2012  In
Đang trực tuyến
  • Khách: 1
  • Thành viên: 0
  • Tổng số thành viên: 36
  • Thành viên mới nhất: danguy

  • Số lượt truy cập:
Liên kết web



Copyright © 2010
Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 
--- a d v e r t i s e m e n t ---