Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 13

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 13

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 14

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 14

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 15

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 15

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 16

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 16

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 17
 FACULTY OF POLITICAL THEORY - Chuyên mục: Nét riêng Phật giáo Huế
 

FACULTY OF POLITICAL THEORY

0234.3825698
 

Deprecated: Function ereg() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/deptemplate/articles_view.php on line 34
Nét riêng Phật giáo Huế

NÉT RIÊNG PHẬT GIÁO HUẾ

Hoàng Ngọc Vĩnh
Trường Đại học Khoa học Huế

            Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế I bằng nhiều con đường. Con đường từ Trung Quốc tuy có muộn hơn nhưng để lại ảnh hưởng sâu sắc hơn đối với Phật giáo Việt Nam.

            Từ 1305, với việc vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân đổi lấy 2 châu Ô và Rí, lập nên 2 châu Thuận và Hóa, Huế mới lại là lãnh thổ của Việt Nam, và vào khoảng 1460, thời Lê Thánh Tông người Việt mới định cư được ở Huế.

            Qua 9 đời chúa Nguyễn (1558-1788), với lũy Trường Dục và sông Gianh (1624) làm giới tuyến, Phật giáo Bắc và Nam (Việt Nam) không liên hệ với nhau. Các chúa Nguyễn dù đề cao Nho giáo nhưng cũng mộ Phật giáo, dùng Phật giáo để thu phục nhân dân, góp phần củng cố địa vị của mình. Thời kỳ này rất nhiều chùa đã được khai sơn tôn tạo tại Huế. Các chúa Hiển Tông (1691-1725), Ninh Vương (1725-1738), Võ Vương (1738-1765) đều thọ giới Bồ tát. Các chúa khác rất quan tâm đến việc trùng tu chùa chiền và ủng hộ sự hoằng dương Phật pháp. Chúa Hiển Tông đã tạo điều kiện và đích thân mời các thiền sư Trung Quốc truyền đạo Phật đến Huế và Đàng Trong. Phái Lâm Tế do thiền sư Hoán Bích Tạ Nguyên Thiều (1665-1729) cùng các thiền sư đồng môn của mình truyền đến Huế. Phái thiền Tào Động do thiền sư Thạch Liêm Đại Sán và các đệ tử của ông là Quốc sư Quả Hoằng, thiền sư Khắc Huyền khai sơn truyền pháp ở các chùa Thiên Mụ, Thiền Lâm, Khánh Vân, Hàm Long (Bảo Quốc) muộn hơn so với Đàng Ngoài 100 năm.

            Nói đến Phật giáo Huế có sự dung hòa Phật-Nho-Lão - “tam cương ngũ thường”, “danh khả danh phi thường danh” với “ba cõi duy tâm, vạn pháp duy thức, tâm sinh thì chủng chủng pháp sinh”; Hay nói Phật giáo Huế có sự hòa quyện giữa thiền tông và tịnh độ tông; Phật giáo Huế nhằm vào con người ở thế gian chứ không chỉ con người ở cõi Phật; Phật giáo Huế-Phật giáo của người Việt Nam yêu thiên nhiên, yêu nước, quyện hòa gắn bó với dân tộc thì vẫn mang dáng dấp chung chung của Phật giáo Việt Nam. Nhưng Phật giáo Liễu Quán thì chắc chắn là nét riêng của Phật giáo Huế.

             Mặc dù bản thể luận Phật giáo là “vô thần luận”, “duy thức luận”, có tính biện chứng, triết học duy tâm là cơ sở phương pháp của triết lý Phật giáo, nhân sinh quan Phật giáo mới chỉ dừng ở tính nhân bản nhân loại mà ít bàn tính nhân bản dân tộc, nhân bản giai cấp, con đường và mục đích cứu rỗi, giải thoát con người trong nhân bản Phật giáo chỉ dừng ở con người trừu tượng, nhưng phải thấy rằng Phật giáo Huế luôn gạn đục khơi trong, vị tha, hướng thiện, từ-bi-hỷ-xả, an ủi giúp đỡ con người. Trong đó, Phật giáo Liễu Quán là nét điển hình của cái riêng Phật giáo Huế. Liễu Quán là dòng phái thiền của người Việt Nam do chính người Việt Nam làm Sơ tổ nhờ sự gạn đục khơi trong, hòa quyện chắt lọc những tinh hoa của 2 dòng Tào Động, Lâm Tế của người Trung Quốc với thuần phong mỹ tục của dân tộc trên tinh thần: Giáo lý chỉ như đò đưa khách qua sông, không nô lệ văn tự để chống nhau. Điều quan trọng là đẹp đạo. Đẹp đạo mới là tất cả.

            Quan niệm truyền tâm ấn của Liễu Quán là “Thạch chuẩn trừu điều trường nhất trượng,/ Quy mao phất phủ trọng tam cân” (Búp măng trên đá dài 1 trượng/ Phủ phất lông rùa nặng ba cân). Trong truyền đạo, khi gặp cảnh “Cao cao sơn thượng hành thuyền,/ Thâm thâm hải để tẩu mã” (Lung linh nước chảy trên đèo,/ Ngựa đua dưới biển thuyền chèo trên non), thì vẫn kiên trì, lâm cơ ứng biến, hòa như nước với sữa: “Chiếc giác nê ngưu triệt dạ hống,/ Một thuyền cầm tự tận nhật đờn” (Lấy đứt dây đàn cầm rung suốt buổi,/ Gãy sừng trâu đất rống thâu đêm). Mục đích cuối cùng của phái Liễu Quán vẫn là “vô thường”, “vô ngã”, là giải thoát và giữ tâm thanh thản trước khi thị tịch: “Thất thập dư niên thế giới trung,/ Không không sắc sắc diệc dung thông./ Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý,/ Hà tất bôn mang vấn tổ tông” (Ngoài bảy năm trong thế giới,/ Không không sắc sắc thảy dung thông./ Ngày nay nguyện mãn về quê cũ,/ Nào phải ân cần hỏi tổ tông).

            Dòng phái Liễu Quán là phái thiền riêng của Huế với bài kệ truyền thừa:

                                    “Thật tế đại đạo tánh hải thanh trừng,

                                    Tâm nguyên quảng nhuận đức bổn từ phong.

                                    Giới định phước huệ thể dụng viên thông,

                                    Vĩnh siêu trí quả mật khế thành công.

                                    Truyền kỳ diệu lý diễn xướng chánh tông

                                    Hạnh giải tương ứng đạt ngộ chân không”[1].

            Từ bài kệ này mà dễ thấy ở Huế, các chùa Thuyền Tôn, Ấn Tông thời chúa Minh Vương; Đông Thuyền, Quốc Ân thời chúa Ninh Vương; Viên Thông thời chúa Võ Vương; Viên Giác, Thuyền Tôn thời chúa Định Vương; Thuyền Tôn, Từ Lâm thời chúa Trịnh chiếm; Viên Thông, Viên Giác thời Tây Sơn; Thuyền Tôn, Ấn Tông (Từ Đàm), Kỳ Viên thời Gia Long đều thuộc phái Liễu Quán[2].

            Nếu nói Liễu Quán cũng là Lâm Tế thì đây là Lâm Tế riêng của Huế. Ở Hội An đời 35 dòng Lâm Tế, đệ tử Minh Hải của thiền sư Hoán Bích từ Trung Quốc sang cất chùa Chúc Thánh đã có 1 bài kệ truyền thừa khác. Ở Nam kỳ trước đây và miền Nam hiện nay, phái Lâm Tế cũng có 2 bài kệ truyền thừa khác: Một của Đạo Mân (người Trung Quốc đời Lâm Tế 31), và một của Trí Thắng Bích Dung đời Lâm Tế 41[3].

            Không tin sấm ký, không chấp thần linh, Phật giáo chỉ chọn điểm cao, thanh tịnh và tuân thủ luật phong thủy làm nơi tọa lạc của các chùa Huế. Mỗi chùa Huế mỗi khi được tạo dựng chỉ tin ở nghiệp lành–dữ, chứ không tin theo lời sấm hoặc bói toán. Đến các chùa Huế sẽ chẳng gặp chuyện bốc xăm bói quẻ, mà chỉ thấy cảnh nghiêm trang, trầm mặc, liên kết khứ-tại-lai, một thế giới suy tưởng vô lượng mà thu gọn. Trong những ngày lễ vía, Phật tín đồ ở Huế và những người dân Huế đến lễ chùa ngoài hương hoa, trái cây là tấm lòng thành kính Tín-Hạnh-Nguyện, tìm cho tâm hồn mình sự bình yên thanh thản, trong sáng, chứ không đến chùa cầu tài, cầu lộc, bói toán.

            Chẳng biết Huế là thành phố nhà vườn, hay vườn chùa đã ảnh hưởng đến kiến trúc của người dân Huế? Chỉ biết đến nay Huế vẫn đẹp và tự hào về thành phố nhà vườn. Đồng thời mỗi ngôi chùa Huế cũng là những vườn cảnh thiên nhiên nhân tạo hài hòa làm mê hồn khách. Chùa Huế không đồ sộ, chỉ e ấp như chính Huế – một thành phố không lớn – chẳng mấy khi ồn ào sôi động òa vào thế giới đương đại, mà luôn bình tĩnh chắc chắn đi lên. Con người Huế rất dung dị, nhẹ nhàng, thông thả, dịu dàng và sâu lắng, kín đáo – không lời ca, không cảnh vật nào khác, chỉ khéo nhận nơ mình một tình cảm chung thủy thiết tha – hẳn có một phần ảnh hưởng của Phật giáo Huế với sự hòa quyện giữa thiền tông với tịnh độ tông - tâm niệm Phật, không câu, không pháp nào cả, chỉ có tâm an không bị các vọng niệm lôi cuốn, duy tâm tinh sáng ngộ về Quốc độ.

            Có thể nói rằng, cùng với sự xác lập chủ quyền của người Việt trên đất Hóa châu và Thuận châu ngày ấy cũng đồng thời là sự hình thành, phát triển lớn mạnh của Phật giáo Huế. Từ 1305-1624, Phật giáo miền Bắc suy yếu dần trước sự ảnh hưởng của Nho giáo và các thế lực khác, thì ở Thuận châu và Hóa châu, mỗi ngôi chùa ngày ấy dù chỉ là tranh tre yếu ớt đã từng là nơi che chở, ôm ấp cho tâm hồn của người dân Huế. Chỉ tiếc là chưa kết luận được một hệ phái nào đã phát triển ở đây. Từ 1624-1788, Phật giáo Đàng Trong và Đàng Ngoài không liên hệ với nhau, Huế vẫn là thủ phủ của Phật giáo Lâm Tế, Tào Động, Liễu Quán của Đàng Trong. Từ 1802-1945, các vua Nguyễn cũng giống các chúa Nguyễn, dù đề cao Nho giáo những cũng mộ Phật giáo, dùng Phật giáo làm chiến lược thu phục nhân tâm góp phần củng cố địa vị thống trị của mình. Năm 1932 “Hội Phật học Trung kỳ” đã ra đời tại Huế. Huế đồng thời là trung tâm Phật học và là trung tâm của “Hội Tăng già Trung kỳ”. Cũng 1932, với chùa Diệu Đức, Huế là nơi đầu tiên có trường đào tạo ni chúng cho “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”. Các trường Báo Quốc, Tây Thiên, Diệu Đức là nơi đào tạo nhiều cao tăng, ni sư cho cả nước. Năm 1951, “Tổng hội Phật giáo Việt Nam” được thành lập tại chùa Từ Đàm – Huế với các vị Tăng thống hội chủ đầu tiên là người Huế, hoặc trưởng thành tại Huế. Từ 1952, Huế là một trong ba thủ phủ Phật giáo của cả nước. Năm 1963, chùa Từ Đàm là trụ sở cho các cấp lãnh đạo Phật giáo Việt Nam họp ra “Tuyên cáo 5 nguyện vọng bảo tồn Phật pháp”, mở đầu cho phong trào Phật giáo đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, đế quốc Mỹ và nhóm Thích Tâm Châu, Thích Tâm Giác, Thích Quảng Liên trong giai đoạn 1963-1974. Phật giáo Huế đã từng tham gia tích cực phong trào đấu tranh chính trị của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” (phái Ấn Quang). Năm 1981, chùa Từ Đàm –Huế là một trong ba địa danh ra mắt của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam” của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

            Phật giáo Huế, con người Huế và văn hóa Huế đã có một bề dày lịch sử đan quyện nhau. Các vương triều đã tìm thấy tính quần chúng, tình cảm dân tộc và sự cứu độ nhập thế của Phật giáo Huế – như là tiềm thức của người dân Huế – là chỗ dựa góp phần củng cố địa vị của mình và sự bền vững của vương triều. Trái lại, Phật giáo Huế đã tìm thấy sự che chở của nhân dân – nhờ sự thế tục và nêu cao tình cảm quê hương, tình cảm dân tộc của Phật giáo Huế – mà tồn tại và phát triển cùng lịch sử dân tộc với tất cả những thử thách quyết của sự đố kỵ trong quá khứ và những năm chống Mỹ-Ngụy.

            Phật giáo Huế vẫn như xưa của thời kỳ hưng thịnh của thế kỷ XVII-XVIII, đầu thế kỷ XIX và những năm chấn hưng 1932-1939, những năm tháng đấu tranh bảo vệ Phật pháp và Dân tộc – 1951, 1952, 1963, 1966, 1973, Huế ngày ngay vẫn là một trong ba trung tâm Phật giáo lớn nhất của Việt Nam. Ngày nay các cao tăng, tăng, ni, Phật tín đồ Huế vẫn đang giữ gìn thân, tâm, ý trong sạch, luôn tu cả giới-định-huệ để phá tan lưới của bọn ác quỷ mặc áo cà sa. Phật giáo Huế là thế, Phật giáo Ấn Quang sống trong lòng người dân Huế và Phật giáo Huế là thế. Những kẻ chủ mưu và tham gia tổ chức gây rối loạn trật tự trị an ở Huế ngày 24 tháng 5 năm 1993 và tháng 10 năm 1994 không đại diện cho Phật giáo Huế, và cũng không thể giả danh Phật giáo Ấn Quang để lừa nhân dân Huế được.

            Phật giáo Huế ảnh hưởng sâu sắc trong đười sống nhân dân Huế chính là ở chỗ Phật thường day: “Bởi vô thường nên tâm luôn biến động. Tâm dơ bẩn thế giới hiện ra ô trọc và hung dữ. Tâm thanh thế giới hiện ra là yên vui, hòa bình, bình đẳng, bác ái”, “Thế giới của Phật là thế giới tâm thanh”, “Con người phải nhìn thấy bản tâm giác ngộ, trong sạch và không giao động của chính mình thì mới thấy được, tới được cõi thanh tịnh, cõi tịnh độ, nước Phật”. Mong cho những ai kia đến với cửa Phật mà để “duyên vô minh” chi phối, tham, sân, si dấy khởi, tâm sở ác bừng lên, hãy mau giác ngộ noi gương Phật Như Lai, nếu không thì làm sao tâm và thân đạt tự tại để đến cõi tự do, tự tại được.

            Phật giáo Huế ngày nay, mà đứng đầu là các vị cao tăng chân tu đang hoằng dương đạo pháp vì dân tộc theo đường hướng “Đạo pháp-Dân tộc-Xã hội chủ nghĩa”, giống như xưa các vị Quốc sư Khuông Việt, thiền sư Pháp Thuận, Quốc sư Vạn Hạnh, thiền sư Tuệ Trung Thượng Sỹ, v.v, đã góp phần làm rạng rỡ giống nòi, cùng nhân dân chống giặc ngoại xâm. Cũng giống như trước 1975, những vị cao tăng cùng Phật tín đồ Huế tin theo “Giaos hội Phật giáo Việt Nam thống nhất” (phái Ấn Quang) luôn thực hiện chân lý “Phật giáo Việt Nam không đặt sự tồn tại của mình như một nguyên vị cá biệt, mà đặt sự tồn tại của Phật giáo trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc”[4], là góp thêm tiếng nói chân tình, công sức của Phật giáo Huế trong công cuộc cải tạo và xây dựng cuộc sống mới ở Huế và Việt Nam. Đó cũng là trách nhiệm cao cả của Phật giáo Huế đối với Huế, đối với Tổ quốc Việt Nam trên cả cương vị tổ chức và cá nhân mỗi tu sỹ Phật giáo.

            Vua Quang Trung băng hà đột ngột nên chưa thực thi chính sách chấn chỉnh Phật giáo của mình, nhưng thời chúa Nguyễn Phúc Châu (1691-1725) đã thực thi 18 điều trần để sửa trị quốc chính và chấn chỉnh Phật giáo: chỉ giữ người chân tu, ai mượn cửa Phật vì mục đích cá nhân bất tuân pháp luật đều phải hoàn tục hoặc bị phạt. Phật giáo Huế không vì thế mà suy yếu, trái lại, đó là thời kỳ hưng thịnh vàng son của Phật giáo. Cứ ngẫm thời Lý-Trần, thời chúa Nguyễn Phúc Châu, đến giai đoạn 1963-1973 và ngày nay, mới thấy Phật giáo hưng thịnh, vàng son không vì Phật giáo là quốc đạo, mà chính là vì Phật giáo hòa hợp, gắn bó với dân tộc, với quê hương và luôn tồn tại trong lòng dân tộc, chứ không tách thành nguyên vị cá biệt. Đó là những gì Phật giáo Huế còn giữ được, tạo được sau bao thăng trầm cùng lịch sử dân tộc lúc mạnh, lúc yếu, có được, có mất làm nên cái riêng của Phật giáo Huế trong lòng người dân Huế và trong lòng người dân Việt Nam. Phật giáo Huế, chùa Huế là những yếu tố góp thêm, làm phong phú thêm và là thành tố chung tạo nên nền văn hóa Huế cùng những thành tố khác. “Huế-Di sản văn hóa thế giới” không chỉ là hoàng thành, lăng tẩm, mà chùa Huế cũng là danh lam trong thời kỳ hưng thịnh lấy “Đạo pháp-Dân tộc-Xã hội chủ nghĩa” làm phương châm hành động góp tạo cho Huế thành di sản văn hóa thế giới. Đó cũng chính là truyền thống của Phật giáo Huế trong mạch sống của quê hương và dân tộc.  

 


[1] Xem Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam, Vân Thanh, PL2518, Sài Gòn, 1974.

[2] Xem Huế xưa và nay, số 5, 1994.

[3] Xem Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam, Vân Thanh, PL2518, Sài Gòn, 1974.

[4] Xem Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam, Vân Thanh, PL2518, Sài Gòn, 1974.

Nguồn: Tạp chí Triết học, Số 2 (102), 1998, tr. 41-43

 


 Khoa Lý luận chính trị  26-02-2012  In
Ý kiến phản hồi
Chưa có ý kiến nào.
Gửi ý kiến phản hồi
Vui lòng Đăng nhập để gửi ý kiến phản hồi.
Đang trực tuyến
  • Khách: 4
  • Thành viên: 0
  • Tổng số thành viên: 36
  • Thành viên mới nhất: danguy

  • Số lượt truy cập:
Liên kết web



Copyright © 2010
Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 
--- a d v e r t i s e m e n t ---