Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 13

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 13

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 14

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 14

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 15

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 15

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 16

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 16

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 17
 FACULTY OF POLITICAL THEORY - Chuyên mục: Nho giáo Trung Quốc và Nho giáo Việt Nam - những nét tương đồng và dị biệt
 

FACULTY OF POLITICAL THEORY

0234.3825698
 

Deprecated: Function ereg() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/deptemplate/articles_view.php on line 34
Nho giáo Trung Quốc và Nho giáo Việt Nam - những nét tương đồng và dị biệt

NHO GIÁO TRUNG QUỐC VÀ NHO GIÁO Ở VIỆT NAM NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT

Ths. Hoàng Ngọc Vĩnh

Trường Đại học Khoa học Huế

 

Suốt chiều dài của sự phát triển lịch sử dân tộc Việt Nam, có những thời kỳ Nho giáo chiếm địa vị độc tôn, và cũng có những thời kỳ Nho giáo bị suy yếu hẳn, thậm chí bị bài xích trong sự hội nhập phát triển của tư tưởng Việt Nam.

 Trong nghiên cứu Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam, đã có nhiều học giả, đặc biệt là nhiều nhà triết học nổi tiếng của Việt Nam đã đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau. Có người khen, có người chê, có người vừa khen, vừa chê. Trong số những nhà nghiên cứu Nho giáo giàu kinh nghiệm ấy, có thể kể tên là giáo sư Trần Văn Giàu, giáo sư Trần Đình Hượu, giáo sư Cao Xuân Huy, giáo sư Lê Sĩ Thắng, giáo sư Hà Thúc Minh, giáo sư Nguyễn Tài Thư, nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim, Nguyễn Đăng Thục v.v...

 Tuy nhiên, với công cuộc đổi mới hiện nay, trong quản lý giáo dục nói riêng, trong giáo dục lối sống cho thế hệ trẻ nói chung, việc nhìn nhận đánh giá lại một cách khách quan những tư tưởng đạo đức, chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết. Từ suy nghĩ đó, với tư cách là người làm công tác quản lý giáo dục, tôi nêu một số suy nghĩ của mình về ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam.

Người sáng lập ra học thuyết Nho giáo là Khổng Tử. Ông tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni (551 - 479 TCN), sinh ra ở nước Lỗ, trong một gia đình quí tộc nhỏ đang sa sút. Thuở đó quê ông là trụ cột, bảo tồn được nhiều di sản văn hoá của nhà Tây Chu.

 Trước cảnh "Vương đạo suy vi", "bá đạo" nổi lên lấn át "Vương đạo" của nhà Chu, tình hình chính trị - xã hội, đạo đức, trật tự, kỷ cương xã hội bị đảo lộn, rối ren, Khổng Tử ra sức kế thừa tư tưởng của Văn Vương, Chu Công và phát huy tư tưởng ấy mong lập lại kỷ cương nhà Tây Chu đã suy vi. Lý tưởng chính trị của ông được xây dựng dựa trên học thuyết về Nhân - Lễ - Chính danh. Trong đó "Nhân" là hạt nhân, là nội dung của học thuyết chính trị của ông. "Lễ" là là hình thức của "Nhân". "Chính danh" là con đường đạt tới điều "Nhân". Phải nói "Nhân" là kết tinh cao nhất của triết học của Khổng Tử.

Trong tác phẩm "Luận ngữ", chữ "nhân" được Khổng Tử đề cập hơn 100 lần, với nội dung chủ yếu là:

 - "Ái nhân": là thương yêu con người.

- "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân": là coi người như mình, cái gì mình không muốn thì cũng không muốn cho người, cái gì mình muốn thì cũng muốn cho người.

- "Kỷ dục lập nhi lập thân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân": tức là mình muốn lập thân, phải giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt, phải giúp người khác thành đạt.

- "Khắc kỷ phục lễ vi nhân": Là tôn trọng nguyên tắc của xã hội; là từ bỏ tính tham lam, ích kỷ, phải hạn chế lòng mình mà hành động theo đúng chân lý, theo trật tự lễ pháp của nhà nước (Nhà Chu); là phải có trí để hiểu biết nhận ra chân lý và hành động theo chân lý; là phải có dũng để bảo vệ và hành động theo chân lý.

Với quan niệm của Khổng Tử thể hiện ở trong "Luận ngữ" thì "lễ" của ông có các nội dung chính là:

- Lễ dùng để chỉ về nghi lễ, chế độ chính trị và những qui phạm đạo đức của Nhà Chu.

- Lễ là qui định và bảo đảm quyền hành của mỗi người.

-  Lễ là trên dưới, ngôi thứ phải rõ ràng.

- Lễ là cơ sở của mọi suy nghĩ và hành động, không phải lễ thì không nhìn, không nghe, không nói, không hành động.

- Lễ là mọi việc làm đâu phải ra đấy và khi thực hiện lễ mọi người phải thành kính.

- Tác dụng của lễ là lấy hoà làm khí.

- "Nhân" và "Lễ" có quan hệ khăng khít nhau, thâm nhập vào nhau làm tiền đề cho việc xác định nội dung của nhau. "Nhân" là nguồn gốc, là nội dung của  "Lễ". Không có "Nhân" thì "Lễ" không tồn tại. Nhưng "Nhân" biểu hiện thông qua "Lễ". "Lễ" là hình thức của "Nhân". Tuy có những nhược điểm như: hoài cổ, thủ tiêu đấu tranh, duy tâm, cải lương, nhưng "Lễ" của Khổng Tử đã góp phần xây dựng một xã hội ổn định, có trật tự, kỷ cương; một xã hội có văn hoá.

 Quan điểm của Khổng Tử về "Chính danh" là: "Chính danh" là danh vị của mỗi người và mỗi người phải tuân thủ nó một cách triệt để. Nội dung cơ bản của "Chính danh" là chính sách dùng người sao cho phù hợp nhằm xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị. Cụ thể:

- Mọi người, mọi vật đều có một vị trí và công dụng nhất định. Ung với mỗi vị trí và công dụng ấy là một "Danh" nhất định, nếu biết dùng nó đúng thì sẽ trở nên hữu ích.

- "Chính danh" là tài đức phù hợp tương xứng với chức vụ được giao.

- "Chính danh" là ai ở địa vị nào lo làm tròn trách nhiệm của mình ở địa vị ấy, không được hưởng quyền lợi cao hơn địa vị của mình.

- "Chính danh" là làm đúng vị trí, cấp bậc, chức danh của mình. Không đứng ở vị trí đó thì đừng mưu tính việc ở vị trí đó.

- "Chính danh" là lời nói và hành động phải phù hợp với nhau. Không được nói nhiều hơn làm. Không được lời nói thì kính cẩn mà trong lòng lại khinh nhờn.

- "Chính danh" là trong việc nước phải dùng người hiền tài, không kể người đó là thân hay sơ. Nếu thấy người khác tài giỏi hơn mình thì mình phải biết nhường vị trí cho họ, nếu không nhường tức là "ăn cắp địa vị".

Theo Khổng Tử, danh vị không chính đáng thì lời nói không suôn sẻ, lời nói không suôn sẻ thì sự việc không thành, sự việc không thành thì "Lễ" và "Nhạc" cũng không thành (Danh bất chính, tất ngôn bất thuận. Ngôn bất thuận, tất sự bất thành. Sự bất thành, tất lễ nhạc bất hưng).

Những nội dung cơ bản của đường lối "Đức tri" trên của Khổng Tử về sau được Mạnh Tử, Tuân Tử bổ sung và phát triển thêm.

 Nho giáo ở Trung Quốc đã phát triển qua nhiều thời kỳ khác nhau. Giai đoạn Khổng - Mạnh - Tuân Tử được coi là giai đoạn sơ kỳ. Giai đoạn này nó không mang tính chất một tôn giáo mà mang tính chất một học thuyết chính trị - đạo đức - xã hội, nên gọi nó là Khổng học hay Nho học mới đúng. Nho giáo trở thành một tôn giáo phải tính từ thời Hán Nho với đại biểu tiêu biểu là Đổng Trọng Thư, và sau đó là Tống Nho, Đường Nho, Minh Nho v.v... Nói chung từ Hán Nho trở đi, Nho giáo đã là sự biến tướng của tư tưởng Nho học sơ kỳ cho thích hợp với chế độ phong kiến trung ương tập quyền ở Trung Quốc.

 Nho giáo vào Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc, là Hán Nho - Tống Nho - Đường Nho v.v... như vậy không còn là tư tưởng Khổng học sơ kỳ nữa. Tuy vậy, nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã tiếp thu Nho giáo một cách có chọn lọc. Nho giáo mới chỉ được coi trọng ở thời Lý - Trần và phát triển mạnh trở nên địa vị độc tôn thời Tiền Lê. O thế kỷ XVI - XVII, đặc biệt là thế kỷ XVIII Nho giáo bị suy yếu hẳn. Dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX Nho giáo mới trở lại địa vị độc tôn ở nước ta. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nho giáo đã từng bị thực dân Pháp lợi dụng như một thứ công cụ để nô dịch dân tộc Việt Nam.

Mỗi thời đại khác nhau, ở mỗi tầng lớp xã hội khác nhau của dân tộc Việt Nam sự ảnh hưởng của Nho giáo là khác nhau. Đây là vấn đề hết sức phức tạp hiện vẫn cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc, khách quan và khoa học. Có lúc nó đã được ca ngợi đưa lên tận mây xanh, có lúc nó lại bị phê phán hạ nhục ê chề. Cũng có lúc quan điểm vừa phê phán vừa ngợi ca chỉ ra những hạn chế, những tích cực trong tư tưởng của Nho giáo.

 Nho giáo hiện nay vẫn ảnh hưởng ít nhiều trong tư tưởng của dân cư Việt Nam. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà trên lĩnh vực tư tưởng, sự tiếp nối giữa quá khứ với hiện tại, sự giao lưu giữa Đông và Tây trở nên cấp thiết. Hiện tại khi mà Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các học giả triết học phương Tây cho rằng CNXH mất hẳn một khi CNXH ở Việt Nam sụp đổ, thì nhiều học giả triết học phương Tây đã tìm đến với phương Đông, muốn tiếp cận với triết học Phật giáo, Nho giáo như một sự trở lại bản chất con người, để tìm ra lối thoát cho sự hoà nhập Đông - Tây. Điều chắc chắn là sự phát triển kinh tế của các nước phương Tây không dựa trên động lực của Nho giáo, Phật giáo. Nhưng xã hội phương Tây thì hướng tới tư tưởng triết học, tư tưởng đạo đức phương Đông, cái mà trong sự phát triển của họ đã thiếu vắng: sự tu dưỡng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của con người, không ham lợi một cách mù quáng để bán rẻ lương tâm, xác lập mối quan hệ cá nhân với xã hội tốt, trên cơ sở không đề cao chủ nghĩa cá nhân mà đề cao tính cộng đồng, không hướng con người đến cuộc sống hưởng thụ, mà đề cao tính tự lực tự cường và ý chí cống hiến cho xã hội. ở phương Đông, trên thực tế phát triển kinh tế của Nhật Bản và 4 con rồng châu á (Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Xingapo) trong những năm vừa qua, đã có nhiều học giả cho rằng Nho giáo là một trong các động lực phát triển kinh tế của họ.

Trong phạm vi bài viết ngắn này, tác giả không có tham vọng nêu lên và phân tích một cách đầy đủ mọi khía cạnh của cái tích cực và tiêu cực của Nho giáo và những ảnh hưởng đó của nó ở Việt Nam mà chỉ bước đầu khái lược nêu lên một số nét tương đồng và khác biệt giữa Nho giáo Trung Quốc và Nho giáo ở Việt Nam.

 Phải thừa nhận rằng những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo ở Việt Nam nói chung, trong Nho giáo Việt Nam nói riêng, đó là thói quen trọng nam, khinh nữ, lộng quyền hách dịch, tham ô, bè phái... Nhưng cũng phải thấy rằng không thời nào không có những Nho sĩ Việt Nam chỉ chịu những ảnh hưởng tích cực của Nho giáo mà tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Chẳng hạn, quan điểm chọn bậc hiền tài giúp nước của Trần Hưng Đạo; tư tưởng chí nhân đại nghĩa của Nguyễn Trãi, không thể không có sự ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo. Đặc biệt ở chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, danh nhân văn hoá lớn của thế giới, trong phong cách, tư tưởng, đạo đức của Người có nhiều nét của người quân tử, đại trượng phu. Nếu đạo đức Nho giáo khuyên người quân tử là "bần bất hoặc nhi hoặc bất quân", thì Bác dạy chúng ta: "Không sự thiếu chỉ sợ không đều". Nếu Nho giáo đã từng quan niệm: "Mệnh trời tức lòng dân", thì Bác đã viết vở kịch "Rồng tre" để cảnh cáo Khải Định rằng: "Dân có quyền truất phế vua bất minh". Nếu Nho giáo đã từng quan niệm đạo đức của người quân tử là "phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất", thì Bác thườn dạy cán bộ, đảng viên phải rèn luyện để trở thành "những người giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khổ không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục". Nếu Mạnh Tử có tư tưởng "hằng sản hằng tâm", thì Bác thường nhắc nhở chúng ta: "Có thực mới vực được đạo", do vậy phải đẩy mạnh sản xuất. Trong tư tưởng đạo đức - chính trị - xã hội, Nho giáo rất nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ không thể chia cắt giữa rèn luyện bản thân với trị quốc bằng mối quan hệ bản chất tác động làm tiền đề cho nhau giữa các khâu cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Khi nói về đạo đức cách mạng, Bác thường dạy chúng ta: "Muốn cải tạo thế giới trước hết phải cải tạo bản thân chúng ta", phải "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư", phải "Trung với nước, hiếu với dân".

 Phải nói rằng, hai quan điểm trên không thể không liên hệ nhau. Điều chắc chắn là Bác Bồ đã mở rộng, nâng cao, cải tạo, hoàn thiện quan điểm đạo đức của Nho giáo cho nó những nội dung mới phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam trong thời đại mới.

 Bên cạnh nét tương đồng tích cực ấy, Nho giáo ở Việt Nam cũng có những nét khác biệt so với Nho giáo Trung Quốc. Nho giáo thường bàn đến Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, nhưng, Khổng - Mạnh - Đổng Trọng Thư v.v... đều cho rằng điều này chỉ có ở bậc quân tử. Họ quan niệm "quân tử có thể bất nhân, tiểu nhân không có nhân làm sao mà bất nhân được". Trong khi đó, ở Việt Nam, Nguyễn Trãi coi cốt lõi nhân nghĩa là ở dân, của dân "mến người có nhân là dân". [1]

 Khổng Tử coi nhân dân lao động và phụ nữ là tiểu nhân; Mạnh Tử coi nhân dân lao động là những kẻ lao lực, phải phục tùng sự cai trị của những người lao tâm; Đổng Trọng Thư coi nhân dân lao động và phụ nữ là hạng người ngu không biết gì, nên không cần phải dạy bảo; thì trái lại ở Việt Nam, các bậc đại nho, nho sĩ chân chính coi nhân dân lao động là chỗ dựa, là động lực của chiến lược dựng nước và giữ nước. Điều này thể hiện rõ trong chính sách khoan sức dân thời Lý - Trần - Lê mà tiêu biểu là Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi luôn đề cao kính trọng những dân đen đang bị "nướng trên ngọn lửa hung tàn", những con đỏ đang bị "vùi dưới hầm tai vạ", những "tứ phương manh lệ" về tụ nghĩa ở Lam Sơn. Ông cho vận nước thịnh hay suy, mất hay còn đều do sức dân quyết định. Dân như nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền, thuyền bị lật mới hay dân như nước. Ông khẳng định "Có được lòng dân, cố kết được nhân dân thì mới lập được công to, làm nên được việc lớn". [2] Bác Hồ cũng thường dạy chúng ta "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng qua".

 Nho giáo Trung Quốc là đề cao tông tộc, vì lợi ích của dòng họ, rất ít đề cao lợi ích của quốc gia dân tộc. Tổ Quốc trong Nho giáo Trung Quốc là Tổ Quốc của Vua, không phải Tổ Quốc của dân. Bởi lẽ, họ đã xuất phát từ lập trường, vua là Thiên tử được trời sai đến để nhận dân, hưởng dân, trị dân. Họ có quan niệm "khắc kỷ phục lễ vi nhân" thì lễ ở đây là lễ của nhà Tây Chu. Ngược lại Nho giáo ở Việt Nam thường đề cao vấn đề dân tộc lên trên lợi ích tông tộc. Khi đất nước lâm nguy thái hậu Dương Vân Nga đã cởi áo long bào của con trai mình khoác lên vai của Lê Hoàn; Trần Thủ Độ vì sự phát triển của dân tộc mà buộc Lý Chiêm Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh; Nguyễn Trãi đã vì nước, vì dân mà 6 lần "miệng hổ lăn mình, quyết nghị hoà để hai nước can qua đều khỏi" và sau này ông đã quên đi lợi ích của bản thân, trước triều đình ông thẳng thắn vạch khuyết điểm của quyền thần. Tất cả chỉ một lòng vì dân, vì nước:

"Còn có một lòng âu việc nước,

Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung".

 Nho giáo Trung Quốc trọng nam, khinh nữ. Đạo đức Nho giáo với những nguyên tắc của nó có thể nói như chiếc vòng kim cô đặt lên đầu người phụ nữ: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phụ tử tòng tử", "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", thì Nho giáo ở Việt Nam không hoàn toàn như vậy. Lịch sử đã chứng minh, nhân dân Việt Nam và các nho sĩ Việt Nam đã từng đi theo, ca ngợi và biết ơn Hai Bà Trưng, Bà Triệu. Thời nhà Lý, vua Lý đã cử Nguyên Phi ỷ Lan thay mình đi Kinh lý để dẹp hoạ cho dân.

 Trở lại với phạm trù "nhân nghĩa", thì "nhân nghĩa" như Nguyễn Trãi là thực sự coi dân là gốc nước, phải thương yêu dân thực sự, "mến người có nhân là dân"; là phải cứu nước, cứu dân. Muốn cứu nước, cứu dân trước phải lo trừ bạo; muốn trừ bạo trước hết phải dùng bạo lực của chính nghĩa "lấy ít địch nhiều, lấy chí nhân thay cường bạo". Phải có được lòng dân, thu phục được nhân tâm để làm nên những chiến công vang dội:

"Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh hôi muôn dặm".

 Tốt Động thây phơi đầy nội, thối để ngàn năm"... tạo ra cục diện thuận lợi quyết chiến chiến lược vĩ đại:

"Đánh một trận sạch không kình ngạc

Đánh hai trận tan tác chim muông"

 nhưng rồi lại 6 lần lăn mình vào miệng hổ để nghị hoà. Và khi đã đạt được hội thề Đông Quan lại cấp lương thực và phương tiện cho giặc rút lui một cách an toàn. "Chí nhân", "Đại nghĩa" như thế, kết thúc chiến tranh diệu kỳ như thế xưa nay chưa hề thấy trong tư tưởng Nho giáo Trung Quốc...

Như trên đã trình bày, Nho giáo có những điểm yếu, có những điểm mạnh. Cả mạnh cả yếu của Nho giáo đều có ảnh hưởng ở nước ta. Tuy vậy, khi tiếp thu Nho giáo, nhân dân ta, dân tộc ta đã có sự chắt lọc, gạn đục khơi trong, làm cho nó phải phù hợp với truyền thống tư tưởng của dân tộc ta. Nhưng, cũng chính cái "Lễ" của Nho giáo mà cho đến nay, người nào, gia đình nào còn ảnh hưởng Nho giáo thì ở đó là cách ứng xử có tôn ti trật tự, là sự cung kính lễ phép, kính già mến trẻ, tôn sư trọng đạo. Thế mới hay ngày trước, mỗi khi đến cổng trường, bước vào cửa lớp, điềumà ai cũng phải thấy và phải nhớ là "Tiên học lễ, hậu học văn", quan điểm giáo dục đó sao lại gọi là lỗi thời được. Ta có thể bỏ "tam tòng", "tam cương", nhưng, làm sao lại có thể gạt bỏ hoàn toàn "tứ đức", "ngũ thường" của Nho giáo. Cũng như thế, ta có thể gạt bỏ hoàn toàn cách nghĩ, cách hành động coi thường phụ nữ, nhưng, không thể gạt bỏ hoàn toàn đạo đức "quân tử", cách sống "chính danh" của Nho giáo.

Ngay cả khi coi Nho giáo là một tôn giáo, thì khi nghiên cứu tư tưởng của Bác Hồ đối với tôn giáo, ta thấy: Bác trân trọng với các tôn giáo, với các vị sáng lập ra các tôn giáo. Cái mà Bác đấu tranh không khoan nhượng là đấu tranh với tổ chức lợi dụng tôn giáo vào mục đích trần tục, không tốt làm công cụ cho chủ nghĩa thực dân. Điều này thể hiện rất rõ trong câu trả lời của Bác với các nhà báo. Khi họ hỏi: "Người là ai?", Bác trả lời:

"Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó. Đó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Kitô giáo có ưu điểm của nó. Đó là lòng bác ái. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó. Đó là chính sách của nó thích hợp với những điều kiện của nước ta. Khổng Tử, Jesus, Mác, Tôn Dật Tiên, họ chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều mong muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội... Tôi gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy". [3]

Việt Nam hiện nay trong thời kỳ quá độ lên CNXH, chấp nhận nền kinh tế thị trường, đạo đức, lối sống của thanh niên và của cả một số cán bộ, đảng viên luôn đứng trước những thách thức bị suy thoái: "Một số bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, sa đoạ về đạo đức và lối         sống". [4]. Chính lẽ đó, việc tôn trọng giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, xây dựng nền văn hoá Việt Nam mới văn minh, hiện đại tiến kịp thời đại là một tất yếu. Trong xây dựng nền văn hoá Việt Nam hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc, giáo dục đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên trong công tác xây dựng Đảng theo NQBCHTW ĐCS Việt Nam khoá VIII kỳ 6 lần thứ II, thì việc nghiên cứu, đánh giá, kế thừa những yếu tố tích cực của Nho giáo là một thành tố chung tạo. "Văn kiện Hội nghị 3 BCHTW ĐCS Việt Nam khoá VIII" ghi rõ: "Cán bộ ở cấp càng cao, càng phải gương mẫu, càng phải giữ gìn phẩm chất đạo đức, thực hiện tốt "tu thân, tề gia", "cần, kiệm, liêm, chính"[5]; "Văn kiện Hội nghị 5 BCHTW ĐCS Việt Nam khoá VIII" cũng chỉ rõ một trong những đức tính của con người Việt Nam mới, cần phải được xây dựng là "có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, qui ước của cộng đồng" [6] đã nhắc nhỡ mỗi chúng ta không được coi thường, phủ nhận học thuyết chính trị - đạo đức của Nho giáo, mà cần phải có một thái độ khách quan, đánh giá một cách khách quan để tìm ra những giá trị tích cực của học thuyết này mà kế thừa và phát huy cho phù hợp với sự phát triển của dân tộc ta trong thế giới hiện đại.



[1] Kỷ niệm 600 ngày sinh Nguyễn Trãi, NXB KHXH, H, 1982, T.II, tr. 39

[2] Sdd, tr. 25

[3] "Nho giáo xưa và nay", NXB KHXH, H, 1971, tr. 16

[4] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII, NXB CTQG, H, 1996, tr. 137

[5] Tạp chí triết học. Số 3/1998, tr. 48

[6] Văn kiện Hội nghị 5 BCHTW ĐCS VN khoá VIII, NXB CTQG, H, 1998, tr. 59

 

Nguồn: Tác giả - http://hngocvinh54.violet.vn/


 Khoa Lý luận chính trị  23-02-2012  In
Ý kiến phản hồi
Chưa có ý kiến nào.
Gửi ý kiến phản hồi
Vui lòng Đăng nhập để gửi ý kiến phản hồi.
Đang trực tuyến
  • Khách: 2
  • Thành viên: 0
  • Tổng số thành viên: 36
  • Thành viên mới nhất: danguy

  • Số lượt truy cập:
Liên kết web



Copyright © 2010
Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 
--- a d v e r t i s e m e n t ---