Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 13

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 13

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 14

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 14

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 15

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 15

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 16

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 16

Deprecated: Function eregi() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/khoallct/maincore.php on line 17
 FACULTY OF POLITICAL THEORY - Chuyên mục: Ảnh hưởng của "Nhân chính" đối với một số nhà triết học Việt Nam tiêu biểu
 

FACULTY OF POLITICAL THEORY

0234.3825698
 

Deprecated: Function ereg() is deprecated in /home/husc/domains/husc.edu.vn/public_html/deptemplate/articles_view.php on line 34
Ảnh hưởng của "Nhân chính" đối với một số nhà triết học Việt Nam tiêu biểu

ẢNH HƯỞNG CỦA "NHÂN CHÍNH" ĐỐI VỚI MỘT SỐ NHÀ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM TIÊU BIỂU

Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế "Nho giáo Việt Nam: Truyền thống và đổi mới" do Viện Triết học (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) và Viện Văn Triết (Viện Nghiên cứu Trung Ương Đài Loan) phối hợp tổ chức tại thành phố Huế, 5-6 tháng 9 năm 2011.

Ths. Hoàng Ngọc Vĩnh

Ths. Trần Viên

Tóm tắt: 

Nho giáo ra đời ở Trung Quốc từ thế kỷ VI trước công nguyên và từ lâu đã ảnh hưởng rất mạnh ở Châu Á, nhất là Đông Nam Á. Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, đặc biệt là học thuyết “nhân chính”, sự biểu hiện của tư tưởng “nhân nghĩa” trên lĩnh vực chính trị của Mạnh Tử, có một vị trí rất quan trọng trong xã hội Trung Quốc nói riêng, một số nước châu Á nói chung và ngày nay đang rất được nhiều nước phương Tây quan tâm.

Nho giáo du nhập vào Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc, là Hán nho, Tống nho, Minh nho, đã biến tướng tư tưởng của Khổng Tử - Mạnh Tử cho thích hợp với chế độ phong kiến Trung ương tập quyền ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, đường lối nhân chính của Mạnh Tử và sự ảnh hưởng của nó với Việt Nam là điều lý thú cần được khám phá trên “cơ sở đời sống kinh tế xã hội cụ thể, từ phong tục tập quán cổ truyền” của dân tộc, mới thấy hết được giá trị và mức độ sâu sắc của những ảnh hưởng đó.

Thời kỳ nào nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam cũng đã tiếp thu Nho giáo một cách có chọn lọc. Giới hạn của bài viết này chỉ là ảnh hưởng của “Nhân chính” đối với một số nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu.

Khoan thư sức dân, đường lối chính trị mang đậm chất nhân văn của Trần  Quốc Tuấn là sự kết hợp tài tình của tài năng của bản thân, thực tiễn của đất nước và của các trào lưu tư tưởng khác trong đó có tư tưởng “Nhân chính” của Mạnh Tử.

Sự tiếp thu có chọn lọc một cách tài tình phạm trù “Nhân chính” của Mạnh Tử ở anh hùng Nguyễn Trãi đã góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc chống giặc Minh, góp phần to lớn cho sự ổn định và phát triển hưng thịnh triều Lê Sơ. Những tư tưởng tiến bộ của ông mãi mãi còn được các thế hệ sau của Việt Nam và nhân loại lưu truyền.

 Phát huy truyền thống dân tộc với việc sử dụng những yếu tố hợp lý trong hệ tư tưởng Nho giáo nói chung và phạm trù “Nhân chính” của Mạnh Tử nói riêng dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, đã tạo nên nét đặc sắc nhất trên diện mạo văn hóa của bậc danh nhân văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh được cả thế giới ngày nay khẳng định.

Việt Nam hiện nay trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chấp nhận nền kinh tế  thị trường, đạo đức, lối sống của thanh niên và của cả một số cán bộ, đảng viên luôn đứng trước những thách thức bị suy thoái. Việc tôn trọng gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới văn minh, hiện đại tiến kịp thời đại là một tất yếu. Thiết nghĩ, trong xây dựng nền văn hóa mới hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc, việc nghiên cứu, đánh giá, kế thừa những yếu tố tích cực trong đường lối nhân chính của Mạnh Tử là một thành tố chung tạo.

Nho giáo ra đời ở Trung Quốc từ thế kỷ VI trước công nguyên và từ lâu đã ảnh hưởng rất mạnh ở Châu Á, nhất là Đông Nam Á. Phải thừa rằng, học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, đặc biệt là học thuyết “nhân chính”, sự biểu hiện của tư tưởng “nhân nghĩa” trên lĩnh vực chính trị của Mạnh Tử, có một vị trí rất quan trọng trong xã hội Trung Quốc nói riêng, một số nước châu Á nói chung và ngày nay đang rất được nhiều nước phương Tây quan tâm. 

Hiện nay, khi mà Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã tan rã, các học giả triết học phương Tây cho rằng chủ nghĩa xã hội sẽ mất hẳn một khi chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sụp đổ, thì vẫn có nhiều học giả triết học phương Tây tìm đến với phương Đông, muốn tiếp cận với triết học Phật giáo và Nho giáo như một sự tìm lại bản chất của con người - để tìm ra lối thoát cho sự hòa nhập Đông-Tây.

Nho giáo du nhập vào Việt Nam thời kỳ Bắc thuộc, là Hán nho, Tống nho, Minh nho, đã biến tướng tư tưởng của Khổng Tử - Mạnh Tử cho thích hợp với chế độ phong kiến Trung ương tập quyền. Nho giáo chỉ mới được coi trọng ở thời kỳ Lý - Trần và phát triển mạnh trở nên địa vị độc tôn thời Tiền Lê. Ở thế kỷ XVI, XVII đặc biệt là thế kỷ XVIII Nho giáo bị suy yếu hẳn. Dưới triều đại phong kiến nhà Nguyễn ở thế XIX, Nho giáo mới trở lại chiếm địa vị độc tôn. Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, Nho giáo đã bị thực dân Pháp lợi dụng qua phong kiến để nô dịch dân tộc Việt Nam. 
Thời kỳ nào nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam cũng đã tiếp thu Nho giáo một cách có chọn lọc. Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo nói chung, của tư tưởng Khổng - Mạnh nói riêng trong đời sống xã hội Việt Nam - trọng nam khinh nữ, bè phái, lộng quyền, hách dịch, tham ô, v.v - thì phải thấy rằng không thời nào không có những nho sỹ Việt Nam chỉ chịu những ảnh hưởng tích cực của Nho giáo mà tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.
Học thuyết chính trị xã hội của Mạnh Tử trước hết là sự phát triển phạm trù “nhân” của Khổng Tử thành học thuyết “nhân chính”, một đường lối chính trị mang tính nhân bản rất cao và có ý nghĩa lớn đối với hiện tại.
Giới hạn của bài viết này chỉ là ảnh hưởng của “Nhân chính” đối với một số nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu.
1. Những nội dung cơ bản trong đường lối “Nhân chính” của Mạnh Tử
a. Dân là gốc. Ý dân là ý trời, quyền trị dân của vua là do trời trao. Từ đó ông xác định dân là gốc nước, có dân mới có nước, có nước mới có vua. Người làm vua phải hiểu và thực hiện nghĩa vụ gìn giữ hạnh phúc của dân, không áp chế dân, không lừa dối dân. 
b. “Nhân chính” là vương đạo phải bảo vệ dân. Trong bảo dân cần phải dạy dân làm ăn, dạy dân lập nghiệp, phải cho nhân dân có tài sản. Thực hiện điều “nhân chính” trước hết, phải sửa sang chia lại các giới hạn đất đai chỉnh đốn lại giới hạn ruộng đất theo phép tỉnh điền. Đề cao kinh tế của dân đồng thời kịch liệt phản đối chủ nghĩa công lợi cá nhân.

c. “Nhân chính” là không dùng sức mạnh mượn tiếng “nhân nghĩa” để xưng bá, mà phải lấy đức để thực hành “nhân nghĩa”. Người làm vương không cần sức mạnh, không ỷ sức mạnh mà chỉ cần thu phục nhân tâm. Vua phải biết trọng hiền tài và sử dụng hiền tài giúp nước. Công kích chiến tranh và công kích những ai vì danh vị vì lợi lộc làm hại dân. 
d. “Nhân chính” còn là giáo dân, phải dạy dỗ cho dân, để dân khỏi làm những điều bậy bạ. Chỉ trung với vua hiền có “nhân nghĩa”, chứ không phải gặp vua nào cũng trung. Dân có quyền cách mạng, nổi lên truất phế vua bất nhân. 
Loại trừ các yếu tố duy tâm, thần bí xuyên tạc tính duy vật thô sơ, chất phác của học thuyết ngũ hành vào đồ thuyết đạo đức; nhận thức luận là duy tâm, tiên nghiệm; tách rời nhận thức cảm tính với nhận thức lý tính;.. Thì đường lối “nhân chính” của Mạnh Tử có cơ sở là: 
- Coi bản chất con người là thiện, bản chất con người được toát ra từ hành vi xử sự lấy nhân, nghĩa, lễ, trí làm gốc. 

- Dùng bạo lực thì mau thắng nhưng không bền, muốn trị quốc lâu dài phải dùng đức.
- Khi thực hiện “nhân chính” thì chính là thực hành điều nhân: bảo vệ dân, giáo dân, dưỡng dân, coi dân là gốc nước; chú trọng lợi ích chung; kêu gọi mọi người trở về với bản tính thiện, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau và trọng người hiền tài.
Tóm lại, tuy trong nội dung “nhân chính” có những hạn chế như duy tâm, siêu hình, hạ thấp vai trò của dân, về cơ bản vẫn là đường lối chính trị phục vụ giai cấp thống trị và luôn tràn đầy tư tưởng hoài cổ, nhưng chính các yếu tố nói trên đã chứa đựng nhiều cái mới, tích cực, cách mạng: bảo dân, dưỡng dân, giáo dân dựa trên nền tảng của sự thực hành “nhân nghĩa”, lấy dân làm gốc; là sự mong muốn, hướng dẫn, khuyên răn con người, phải ăn ở, phải cư xử có nghĩa có tình tuân thủ những luân thường đạo lý làm người, có phân biệt thân sơ, căn cứ vào một điểm khi nhìn người “bất nhẫn nhân chi tâm”.
Những nội dung tích cực của “nhân chính” đã nêu trên luôn có những ý nghĩa nhất định cho ta suy nghĩ và hành động trong giai đoạn xây dựng đất nước ngày nay: thực hiện một nền kinh tế thị trường định hướng lên Chủ nghĩa xã hội với bài học kinh nghiệm quan trọng bậc nhất “lấy dân làm gốc”.
2. Ảnh hưởng của “Nhân chính” ở một số nhà tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam
a. Ảnh hưởng của “Nhân chính” ở Trần Quốc Tuấn
Hưng ĐạoVương Trần Quốc Tuấn là nhà tư tưởng nhà chính trị xuất sắc, là tướng giỏi trong cuộc đấu tranh chống Nguyên-Mông giành độc lập cho dân tộc Việt Nam. Ông đã được nhân loại bầu chọn là một trong mười vị tướng tài của thế giới cho đến thế kỷ XX. Trưởng thành trong một gia đình nhà Nho, tư tưởng của Trần Quốc Tuấn nhất định có sự ảnh hưởng tư tưởng “Nhân chính” của Mạnh Tử.
Điểm nổi bật trong tư tưởng của Trần Quốc Tuấn là tư tưởng “khoan thư sức dân làm kế sâu gốc bền rễ”. “Khoan thư sức dân” là đoàn kết với dân, tổ chức dân, dưỡng dân. Trong tất cả các tư tưởng của ông thì được lòng dân mới là tất cả, dân là gốc nước. 

Ở Trần Quốc Tuấn, dân là chính trị, đường lối chính trị phải lấy giữ nước làm gốc. Mọi chiến lược của chiến thuật phải căn cứ ở lợi ích của dân, thắng hay thua, tiến lên hay lùi bước đều phải căn cứ vào lợi ích của dân. Quần chúng nhân dân quyết định đối với sự phát triển tài năng của những vị anh hùng xuất chúng. Thiếu sự giúp đỡ và ủng hộ của quần chúng nhân dân thì không có được những anh hùng xuất chúng.
Trần Quốc Tuấn rất tinh tế trong sự quý trọng người tài. Trần Quốc Tuấn cũng là người rất chăm lo cho các tướng sĩ, cùng các tướng sĩ vượt qua mọi khó khăn. Chủ trương đoàn kết nhân dân trước hết triều đình phải đoàn kết. 
Ông nêu ra một loạt các khái niệm đạo đức như anh hùng, vinh dự, sĩ nhục,.. gắn liền với nền độc lập của dân tộc, đó là sự cải biến các phạm trù “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí” của Mạnh Tử cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước và con người Việt Nam. 
Tư tưởng, đường lối chính trị mang đậm chất nhân văn của Trần Quốc Tuấn là sự kết hợp tài tình của tài năng của bản thân, thực tiễn của đất nước và của các trào lưu tư tưởng khác trong đó có tư tưởng “Nhân chính” của Mạnh Tử. Đường lối chiến lược của Trần Quốc Tuấn đã được cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta trong hàng chục thế kỷ vừa qua xác nhận là hoàn toàn đúng đắn. 
b. Ảnh hưởng của “Nhân chính” ở Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (1380–1442) là nhà yêu nước vĩ đại, nhà quân sự và chính trị kiệt xuất, nhà ngoại giao lỗi lạc, nhà văn hóa lớn, và là anh hùng dân tộc Việt Nam trong lịch sử nước ta đầu thế kỷ XV. Là người văn võ song toàn, tài năng của ông bộc lộ rất sớm. Nhân kỷ niệm 600 năm sinh của ông, nhân loại đã bình chọn Nguyễn Trãi là danh nhân văn hóa thế giới.
Tư tưởng Nguyễn Trãi qua những tác phẩm bất hủ ông để lại cho đời như “Bình Ngô Đại Cáo”, “Quân trung từ mệnh tập”, “Ức trai thi tập”, “Quốc âm thi tập”, “Dư địa chí”,.. là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các trào lưu tư tưởng khác, với thực tế đất nước, truyền thống, bản sắc của con người Việt Nam. Trong các trào lưu tư tưởng đó nổi bật lên là tư tưởng Nho giáo mà cụ thể là ảnh hưởng của phạm trù “Nhân chính”. 

Nguyễn Trãi đã là sự tiếp thu tư tưởng “Nhân nghĩa” của Mạnh Tử một cách không máy móc, giáo điều, mà có sự sáng tạo và phát triển, thể hiện lòng yêu nước thiết tha, thương dân sâu sắc của một anh hùng dân tộc. Ông đã tạo ra một sức mạnh khá đặc biệt trong lịch sử của các cuộc chiến tranh, sử dụng “Nhân nghĩa” để đánh địch. 
Tư tưởng “Dân vi quý” của Mạnh Tử ở Nguyễn Trãi là nỗi lòng thương xót nhân dân, là niềm tin yêu nhân dân, nhân dân là sức mạnh cuồn cuộn như nước triều dâng. Nhân dân là định hướng cho toàn bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi. Hết lòng thương dân, Nguyễn Trãi thực sự “Dân vi bản”. Dân của Nguyễn Trãi là toàn thể nhân dân lao động, bao gồm cả “Con đen”, “Con đỏ”, “Manh lệ tứ phương”. 
Nguyễn Trãi thấy được sức mạnh to lớn của dân “Dân như nước”. Vì thế, ông luôn thấy mình phải có trách nhiệm “Nuôi dân”, “Chăm dân”, “Huệ dân”. Do vậy, mọi chủ trương, mọi đường lối của triều đình đều phải căn cứ vào lòng thương dân, đều phải căn cứ vào lòng người mà hoạch định.
Nếu như ở Mạnh Tử “Lòng trắc ẩn là đầu mối của nhân”, thì ở Nguyễn Trãi “Nhân” không chỉ là lòng trắc ẩn mà còn vì độc lập của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì hòa bình của đất nước. Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa vừa là đường lối đánh giặc giữ nước, vừa là phần thưởng để tuyên dương công trạng, vừa là luật pháp nghiêm trị kẻ phạm tội, vừa là tài sản quý giá để chăm sóc cho hạnh phúc của muôn dân.
Yêu hòa bình là nét tiêu biểu thể hiện trong nhiều chiến lược, sách lược đánh giặc giữ nước của Nguyễn Trãi. Trong đường lối chính trị ấy của Nguyễn Trãi mang đậm chủ nghĩa nhân đạo. 
Với ông, trung với vua là phải khuyên vua thực hành nhân nghĩa cùng vua cứu dân giúp nước, thực hành lý tưởng “Lo trước, vui sau”, để dân giàu nước mạnh. Nhân cách này còn thể hiện việc trọng dụng người tài của Nguyễn Trãi. Trong đối nhân xử thế với tất cả các mối quan hệ trong xã hội, Nguyễn Trãi luôn là người “Có nhân, có trí, có anh hùng”. Trong gia đình ông là người con có hiếu. Với bạn bè, Nguyễn Trãi luôn quan tâm, giúp đỡ với mọi người, đồng cam cộng khổ với họ.
Nói tóm lại, Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa của thế giới đã kế thừa được nhiều truyền thống quý báu của dân tộc, tình nghĩa, tương thân tương ái, yêu nước thương dân, bất khuất chống giặc ngoại xâm,.. trên tinh thần của bậc đại nho. Sự tiếp thu có chọn lọc một cách tài tình phạm trù “Nhân chính” của Mạnh Tử ở anh hùng Nguyễn Trãi đã góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc chống giặc Minh, góp phần to lớn cho sự ổn định và phát triển hưng thịnh triều Lê Sơ. Những tư tưởng tiến bộ của ông mãi mãi còn được các thế hệ sau của Việt Nam và nhân loại lưu truyền. 
c. Ảnh hưởng của “Nhân chính” ở Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho giáo, lớn lên trên 2 quê hương cách mạng Nam Đàn của Nghệ An và Huế của Thừa Thiên Huế. Từ truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, bằng những phẩm chất cách mạng đặc biệt của bản thân, Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa thế giới, kế thừa, phát triển thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Người đã được tổ chức văn hóa thế giới UNESCO phong tặng cùng lúc hai danh hiệu “Anh hùng giải phóng của dân tộc Việt Nam”, “Danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người.
Cái vĩ đại của Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã khéo gạn lọc được trong đó những yếu tố tích cực, những điều có ích để vận dụng cho mục đích cách mạng. Vị lãnh tụ, người cha già của dân tộc Việt Nam đã tìm đến được với chủ nghĩa Mác-Lênin. Kể từ đó, chủ nghĩa Mác-Lênin là ánh sáng soi đường cho mọi hoạt động của Người. Hồ Chí Minh đã kế thừa tư tưởng “Nhân chính” dưới sự chỉ dẫn của ánh sáng đó.
Suốt cả cuộc đời Người là vì “Độc lập dân tộc”, vì “Tự do, hạnh phúc” của nhân dân. Tiếp thu “Dân vi quý” của Mạnh Tử nhưng phạm trù “Dân” của Hồ Chí Minh rộng hơn của Mạnh Tử. “Dân” ở đây được gọi hết sức thân thiết, trìu mến là “Đồng bào”. Trong vở kịch “Rồng tre”, Bác đã mượn quan niệm “Mệnh trời tức lòng dân” để cảnh cáo Khải Định “Dân có quyền truất phế vua bất minh”. 
Nếu Mạnh Tử đã nói về phẩm cách của đại trượng phu, đại nhân, quân tử là “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” thì Bác Hồ đã khái quát phẩm chất của người cộng sản Việt Nam phải là “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”. Nếu như Mạnh Tử chủ trương “Hằng sản hằng tâm” thì Bác Hồ luôn nhấn mạnh đến vấn đề tầm quan trọng của lao động sản xuất và rèn luyện phẩm chất đạo đức cá nhân. Bác thường dạy chúng ta “Không sợ thiếu, chỉ sợ không đều”, đây chính là cách diễn đạt về tư tưởng “Bần bất hoặc nhi hoặc bất quân” của Khổng – Mạnh.
Nếu Nho giáo nói chung, Mạnh Tử nói riêng rất nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa các khâu cách vật, tri trí, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Thì Bác Hồ thường dạy chúng ta “Muốn cải tạo thế giới trước hết phải cải tạo bản thân chúng ta”, phải “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công, Vô tư” phải trung với nước hiếu với dân. 
Phát huy truyền thống dân tộc với việc sử dụng những yếu tố hợp lý trong đường lối “Nhân chính” của Mạnh Tử dưới ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác-Lênin, đã tạo nên một nét đặc sắc nhất trên diện mạo văn hóa của bậc danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh. Trong lịch sử đã có rất nhiều nhà tư tưởng chịu ảnh hưởng bởi phạm trù “Nhân chính” của Mạnh Tử, nhưng đến Hồ Chí Minh mới là người chịu ảnh hưởng tích cực, khoa học, đúng đắn và cách mạng nhất.
Toàn bộ sự nghiệp cách mạng ấy, Hồ Chủ Tịch nhờ kế thừa và phát huy thành công truyền thống quý báu của dân tộc “sử ta dạy cho ta bài học: khi nào dân ta đoàn kết thì độc lập của nước ta được giữ vững, khi nào dân ta không đoàn kết thì độc lập của nước ta có nguy cơ bị xâm phạm”[1]. 
[1] Xem Sđd, tập 3, trang 217.
Vì kẻ thù man rợ cướp nước ta, giết hại dân ta, dùng bạo lực giành độc lập dân tộc tự do là việc làm bất khả kháng của Người. Chính vậy mà trong cả hai cuộc chiến, Người luôn viết thư kêu gọi đối phương, ngồi vào bàn hội nghị hòa bình để giải quyết chiến tranh.
Người đau tất cả nỗi các nỗi đau của những cha mẹ mất con, vợ mất chồng, người thân mất người thân,.. nên kiên định hòa bình, nhân nghĩa trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nhân từ, nhân hậu, nhân ái, vì đại nghĩa, mà Người đã nổ lực bằng mọi giá, để kết thúc chiến tranh bằng các Hội nghị thương lượng hòa bình.
Và thật tuyệt vời, cả hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ của Việt Nam, đều đã kết thúc tại hai hội nghị hòa bình thế giới. Độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc được giữ vững, nhân dân được hoàn toàn tự do, tạo điều kiện tốt nhất cho toàn dân tộc chung sức chăm lo hạnh phúc của đồng bào. Sử vàng Việt Nam được lưu danh muôn thủa.

3. Lời kết: Trong sự hội nhập văn hóa Đông-Tây ngày nay, điều chắc chắn là sự phát triển kinh tế của các nước phương Tây không dựa trên động lực của Nho giáo, nhưng chính xã hội phương Tây lại đang hướng tới Nho giáo và tư tưởng đạo đức phương Đông, cái mà trong sự phát triển của họ đã thiếu vắng: sự tu dưỡng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của con người; không ham lợi một cách mù quáng để bán rẻ lương tâm; xác lập mối quan hệ cá nhân với xã hội tốt trên cơ sở không đề cao chủ nghĩa cá nhân mà đề cao tính cộng đồng; không hướng con người đến cuộc sống hưởng thụ mà đề cao tính tự lực tự cường và ý chí cống hiến cho xã hội. Trọng dân, bảo dân, dưỡng dân, giáo dân - của Mạnh Tử - là cái đang thiếu hụt trong sự phát triển rực rỡ của văn minh công nghiệp các nước phương Tây.
Trên thực tế sự phát triển của Nhật Bản và bốn con Rồng Châu Á (Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Singapo) trong những năm vừa qua, nhiều học giả đã cho rằng Nho giáo là động lực phát triển kinh tế của họ. 
Việt Nam hiện nay trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chấp nhận nền kinh tế thị trường, đạo đức, lối sống của thanh niên và của cả một số cán bộ, đảng viên luôn đứng trước những thách thức bị suy thoái. Việc tôn trọng gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới văn minh, hiện đại tiến kịp thời đại là một tất yếu. Trong xây dựng nền văn hóa mới hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc, việc nghiên cứu, đánh giá, kế thừa những yếu tố tích cực trong đường lối nhân chính của Mạnh Tử là một thành tố chung tạo. 
Có lẽ thế mà trong các “Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam” Đảng ta chỉ ra một trong những đức tính con người Việt Nam mới cần phải được xây dựng là “có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng”. Các phạm trù đạo đức ấy có nguồn gốc từ Nho giáo cũng đã được nhắc lại nhiều lần trong các văn kiện của Đảng ta từ Đại hội VII đến nay mỗi khi bàn và quy định các chuẩn mực của con người mới Việt Nam.

 

Nguồn: Tác giả


 Khoa Lý luận chính trị  23-02-2012  In
Ý kiến phản hồi
Chưa có ý kiến nào.
Gửi ý kiến phản hồi
Vui lòng Đăng nhập để gửi ý kiến phản hồi.
Đang trực tuyến
  • Khách: 3
  • Thành viên: 0
  • Tổng số thành viên: 36
  • Thành viên mới nhất: danguy

  • Số lượt truy cập:
Liên kết web



Copyright © 2010
Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 
--- a d v e r t i s e m e n t ---