Đại học Huế

Trang đào tạo tín chỉ

Trung Tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn

Trung tâm Thông tin - Thư viện

Khoa Môi trường

Khoa Điện tử - Viễn thông

Bộ môn Bản đồ, Viễn thám và GIS

Vật liệu gốm sứ thông minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh với thương binh, liệt sĩ và các gia đình có công với cách mạng

ThS Hoàng Ngọc Vĩnh

Lịch sử Việt Nam trải mấy ngàn năm là lịch sử chống giặc ngoại xâm, đã ghi dấu công lao của biết bao thế hệ đồng bào đem xương máu bảo vệ độc lập Tổ quốc. Lịch sử đó đã hun đúc nên đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Kế thừa truyền thống ngàn đời của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết đạo lý đó thành một trong những nội dung tư tưởng của Người “Hồ Chí Minh với thương binh, liệt sĩ và các gia đình có công với cách mạng”.

24 năm trên cương vị người đứng đầu Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Chính phủ thế chế hóa tư tưởng đó thành văn bản pháp quy của Nhà nước đối với thương binh, liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng. Đồng thời, Người là một tấm gương sáng tiêu biểu thể hiện tấm lòng biết ơn các thương binh, liệt sỹ và gia đình có công với cách mạng. Năm 1941, trong bài “Mười chính sách của Việt Minh” Người viết: “Binh lính giữ nước có công/ Được dân trọng đãi, hết lòng kính yêu”[1]. Năm 1949, Bác gửi một số khăn mặt, áo quần, 1 tháng lương là 1000 đồng; năm 1951 Bác tặng một số bộ quần áo; năm 1952, Bác gửi 1 tháng lương, 2 phiếu công trái quốc gia (1 phiếu tương đương 1 tấn thóc); năm 1953, Bác gửi 1 tháng lương và 30 chiếc khăn tay; năm 1954, Bác gửi 1 tháng lương 45000 đồng và 30.000 đồng do 1 Việt kiều ở Trung Quốc tặng Bác; v.v; nêu gương tỏ lòng biết ơn các thương binh, liệt sỹ và gia đình có công với cách mạng.

Sinh thời, Bác Hồ kính yêu dù bận trăm công ngàn việc nhưng Người vẫn luôn nhớ tới thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng và giành nhiều tình cảm, quan tâm đến gia đình của họ. Ngày 16/1/1947, Bác ký Sắc lệnh số 20/SL quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tử tuất. Trong cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp, tháng 6/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó trong năm làm “Ngày thương binh” để đồng bào ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng. Hưởng ứng và đáp lại tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị trù bị Trung ương, có một số đại biểu ở khu và tỉnh tham dự đã khai mạc tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nhất trí lấy ngày 27/7 hàng năm là ngày thương binh liệt sĩ và tổ chức ngay lần đầu trong năm 1947. Trừ những ngày kỷ niệm quốc tế và ngày Quốc khánh, có lẽ “Ngày thương binh” là ngày kỷ niệm trong nước đầu tiên được tổ chức ở Việt Nam. Ngày 03/10/1947, Bác ký Sắc lệnh thành lập Bộ Thương binh - Cựu binh (tiền thân Bộ LĐ-TB&XH ngày nay) để chuyên trách chăm lo công việc trọng đại này.

Ngay từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước đang cảnh thù trong, giặc ngoài, Bác vẫn nghĩ đến công ơn của các thương binh, liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng. Ngày 10/3/1946, trong “Thư gửi đồng bào Nam Bộ, chiến sĩ ở tiền tuyến và các UBHC Nam Bộ” Người viết: “tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc tranh đấu cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng”[2].  Hơn nửa tháng sau khi đi Pháp về, ngày 7/11/1946, Người đã đến dự lễ “Mùa đông binh sĩ” do Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam tổ chức tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, vận động đồng bào ở hậu phương đóng góp tiền, của để may áo trấn thủ cho chiến sĩ, thương binh, bệnh binh. Bác ra “Thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi” cùng ngày 7/11/1946: Vì muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những chiến sĩ đã hy sinh tính mệnh cho nền Tự do, Độc lập và Thống nhất của nước nhà, hoặc trong thời kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sĩ đó, và tôi nhận con các liệt sĩ làm con nuôi của tôi”[3]. Trong “Thư gửi đồng bào toàn quốc” ngày 15/11/1946, Người viết: “Cùng đồng bào toàn quốc, Hàng ngày tôi lưu tâm đến công cuộc “Mùa đông binh sĩ”. Thấy các tôn giáo, các báo chí, các đoàn thể, các thân hào và toàn thể đồng bào đều sốt sắng tham gia, tôi rất vui lòng và cảm động. Tôi xin thay mặt Chính phủ và Quân đội cảm tạ tấm lòng nhiệt thành của quốc dân. Chiếc áo trấn thủ mà đồng bào sẽ gửi cho anh em binh sĩ trong mùa rét này, chẳng những sẽ giúp anh em giữ được sức mạnh để bảo vệ đất nước, mà lại còn khiến anh em luôn luôn nhớ đến tình thân ái nồng nàn của đồng bào ở hậu phương”[4]. Tiếp sau đó, ngày 23/11/1946, trong thư “Gửi đồng bào Việt Nam, người Pháp và người thế giới”, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết: “Tôi nghiêng mình trước anh hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam, đã vì Tổ quốc mà hy sinh tính mệnh. Tôi cũng ngậm ngùi thương xót cho những người Pháp đã tử vong. Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người.”[5]. Người kêu gọi: “Người Việt và người Pháp có thể và cần phải bắt tay nhau trong một sự nghiệp cộng tác bình đẳng, thật thà, để gây dựng hạnh phúc chung cho cả hai dân tộc. Đó là ý nguyện rõ rệt của Việt Nam, mong người Pháp và toàn thế giới biết cho”[6] 

            Khi biết tin bác sỹ Vũ Đình Tụng là người trực tiếp khâu mổ vết thương cho các thương binh, chiến sỹ bảo vệ thành Hà Nội, có hai con trai là Vũ Đình Tín và Vũ Chí Thành đã hy sinh trong những ngày Tổng khởi nghĩa và Kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 1/1947, từ chiến khu Việt Bắc, Bác đã viết bức thư vô cùng xúc động gửi bác sỹ Vũ Đình Tụng: “Thưa ngài, Tôi được báo cáo rằng: con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc. Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam. Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là dân tộc anh hùng. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ. Ngài đã đem món của quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng. Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn ngài, và gửi ngài lời chào thân ái và quyết thắng”[7].

            Ngày 27/7/1947, Người viết thư gửi Thường trực Ban tổ chức “Ngày thương binh toàn quốc”, ở đó Người kêu gọi toàn Đảng, toàn Dân phải biết ơn và tận tình giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng: “Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp, cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe dọa. Của cải, ruộng nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta. Đó là những chiến sĩ mà nay một số thành ra thương binh. Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào, mà các đồng chí chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy Tổ quốc, đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy[8].

            Người vận động đồng bào nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ thương binh. Bản thân Người đã xung phong góp chiếc áo lụa, một tháng lương và tiền ăn một bữa của Người và của tất cả các nhân viên của Phủ Chủ Tịch, tổng cộng là một ngàn một trăm hai mươi bảy đồng để tặng thương binh: Ngày 27 tháng 7 là một dịp cho đồng bào ta tỏ lòng hiếu nghĩa bác ái, là tỏ ý yêu mến thương binh... Luôn luôn tin vào lòng nhường cơm, sẻ áo của đồng bào ta, tôi chắc rằng “Ngày thương binh” sẽ có kết quả mỹ mãn. Tôi xin xung phong gửi một chiếc áo lót lụa của chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của tôi, một bữa ăn của tôi, và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127đ.00)”[9]. Trong “Thư gửi dồng bào An Phú và Văn Giáo (Nghĩa Hưng)” tháng 3/1948, Người khen ngợi và cảm ơn đồng bào giúp quỹ mùa Đông binh sĩ: “Tôi được biết rằng đồng bào đã bỏ sự ăn uống hàng năm, đem ruộng hậu và huê điền đấu giá được 3.000 đồng giúp quỹ mùa Đông binh sĩ. Tôi thay mặt Chính phủ khen ngợi đồng bào và thay mặt chiến sĩ cảm ơn đồng bào”[10].

Trong “Lời kêu gọi nhân ngày 27/7/1948”, Bác nêu gương sự hy sinh to lớn của những người xả thân vì nước: “Khi nạn ngoại xâm ào ạt đến, nó đến như một trận lụt to. Nó đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc. Nó đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh tài sản, chìm đắm cả bố, mẹ, vợ, con, dân ta. Trước cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta dũng cảm xông ra mặt trận. Họ quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững, để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào. Họ quyết hy sinh tính mệnh họ, để giữ gìn tính mệnh của đồng bào. Họ hy sinh gia đình và tài sản họ, để bảo vệ gia đình và tài sản của đồng bào”[11]. Người xót xa trước sự mất mát, hy sinh của thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng: “Cách mấy ngày trước, họ là những thanh niên lành mạnh, vui vẻ, oanh liệt. Trải qua những ngày ăn gió nằm sương, những trận mưa bom bão đạn, họ bị tay què chân cụt, họ hoá ra thương binh. Họ đã hy sinh cho ai? Cách mấy ngày trước, bố mẹ họ nhận được tin tức, đang mong cho đến ngày kháng chiến thắng lợi, độc lập thành công, họ sẽ trở lại quê hương, một nhà đoàn tụ. Ngày nay, bố mẹ họ đã mất một người con yêu quý. Vợ trẻ thơ trở nên bà hoá. Con dại trở nên bồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ”[12]. Người khẳng định công lao vô bờ của thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng và kêu gọi đồng bào báo đáp công ơn đó: “Họ quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Họ là những chiến sĩ anh dũng của ta. Trong đó, có người đã bỏ lại một phần thân thể ở trước mặt trận. Có người đã bỏ mình ở chiến trường. Đó là thương binh, đó là tử sĩ... Thương binh và tử sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, đã hy sinh cho đồng bào. Để báo đáp công ơn đó, Chính phủ đang tìm mọi cách để giúp đỡ anh em thương binh và gia đình tử sĩ. Tôi cũng mong đồng bào sẵn lòng giúp đỡ họ về vật chất và về tinh thần. Từ trước đồng bào đã giúp đỡ nhiều. Nhưng tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh. Mà lòng bác ái của đồng bào cũng không có hạn. Vì vậy, tôi mong và chắc rằng: đồng bào trước đã giúp đỡ, sau này sẽ sẵn sàng giúp đỡ mãi. Nhân dịp này, tôi xin thay mặt anh em thương binh và gia đình tử sĩ cảm ơn đồng bào. Tôi cũng thay mặt Chính phủ, gửi lời thân ái an ủi các anh em thương binh và gia đình tử sĩ và hứa rằng Chính phủ luôn luôn tìm cách săn sóc các bạn. Chúc các bạn được bình yên”[13].

            Tiếp theo những năm sau đó, năm nào Bác cũng gửi một tháng lương, quần áo, khăn mặt để tặng anh chị em thương binh. Người đề nghị chính quyền xã ở các địa phương cần đón thương binh về nuôi, nên trích một phần đất công, hoặc khai hoang, vận động đồng bào cày cấy, gặt hái hoa lợi để nuôi thương binh. Người cũng động viên anh chị em thương binh tùy theo sức của mình mà làm những công việc nhẹ nhàng như: may mặc, đan lát, hớt tóc, dạy bình dân học vụ, làm việc văn phòng, v.v… để góp phần tăng thêm thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của bản thân mình. Bác luôn coi thương binh là những người tàn mà không phế. Trong thư gửi Bộ trưởng Thương binh-Cựu binh ngày 27/7/1952, Người viết: “Mỗi năm, đến ngày này, thì đồng bào càng nhớ đến anh em thương binh, bệnh binh, những người đã hy sinh một phần xương máu để bảo vệ nhân dân, giữ gìn Tổ quốc. Tôi xin gửi cụ một tháng lương, nhờ cụ chuyển làm quà cho anh em với lời thân ái hỏi thăm của tôi”[14], và Người nhắc nhở: Về phần đồng bào: - Nên coi đó là một nghĩa vụ của nhân dân đối với những chiến sĩ bị thương, bị bệnh; không nên coi đó là một việc “làm phúc”[15]. Người căn dặn: “Trong khi đón anh em về xã, thì chính quyền và đoàn thể địa phương (trước hết là nông hội, phụ nữ, thanh niên) cần phải tổ chức sẵn sàng việc giúp đỡ cho anh em có thể sớm tự túc dần dần (giúp đỡ tinh thần và vật chất)”[16]. Trong “Lời kêu gọi nhân ngày kỷ niệm hai năm kháng chiến toàn quốc”, Bác thành kính:Hôm nay, cuộc trường kỳ kháng chiến bước sang năm thứ ba, riêng Nam Bộ đã đến năm thứ tư… Tôi lại thay mặt Chính phủ, kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh cho Tổ quốc và gửi lời thân ái an ủi các thương binh, cựu binh, cùng gia đình các chiến sĩ.”[17]. Bác cũng tỏ lòng khen ngượi các y, bác sĩ, hộ lý đã hết lòng cứu chữa thương binh, bệnh binh, và Bác căn dặn: Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ đau đớn cũng như mình đau đớn. “Lương y phải như từ mẫu”, câu nói ấy rất đúng”[18]..

            Sau khi thủ đô Hà Nội được giải phóng, ngày 31/12/1954, Bác cùng các đồng chí Trường Chinh, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đã đến đặt vòng hoa lên đài liệt sĩ - đài mới được dựng trên khoảng đất rộng trong vườn hoa cạnh quảng trường Ba Đình, trước Phủ Chủ tịch. Đứng trước đài liệt sĩ, hương trầm nghi ngút, Bác bùi ngùi tưởng nhớ các liệt sĩ, không giữ được dòng nước mắt. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thay mặt Bác đọc điếu từ. Ở đó Bác viết: Ngày mai là năm mới, là ngày đồng bào và bộ đội mừng Chính phủ về Thủ đô. Trong lúc cả nước vui mừng, thì mọi người đều thương tiếc các liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc. Bác thay mặt nhân dân, Chính phủ và bộ đội kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn bất diệt của các liệt sĩ. Các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt sĩ đã ghi sâu vào lòng dạ của toàn dân và non sông đất nước. Các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng chí khí dũng cảm của các liệt sĩ đã thấm nhuần vào tâm hồn của toàn quân và dân ta trong cuộc kiên quyết đấu tranh đặng giành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trong cả nước. Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm thắm đỏ. Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời lưu truyền với sử xanh. Một nén hương thành, Vài lời an ủi. Anh linh của các liệt sĩ bất diệt! Tổ quốc Việt Nam vĩ đại muôn năm!”[19].

Trước lúc đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin, trong di chúc của mình, Người không quên căn dặn Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong...), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lự cuộc xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”[20].

            Tư tưởng chỉ đạo của Bác đối với thương binh, liệt sĩ và gia đình có công với cách mạng là phải làm thường xuyên, lâu dài chứ không phải nhất thời. Tư tưởng và tình cảm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Thương binh, liệt sĩ “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”[21] đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thấm nhuần sâu sắc, thực hiện tốt công tác đền ơn, đáp nghĩa.

            Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nhiều địa phương đã dấy lên phong trào chị em phụ nữ tình nguyện lấy thương binh để có điều kiện chăm sóc tốt hơn. Đó là những nghĩa cử đẹp, cảm động rất đáng trân trọng. Từ sau ngày Tổ quốc thống nhất, phong trào được tổ chức ngày càng chặt chẽ, có tính chất thiết thực hơn. Phong trào xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, chăm nom, giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ của nhân dân ta diễn ra hết sức sôi nổi, có kết quả cao. Nhân dân ta luôn ghi nhớ công lao của những người đã hy sinh cho Tổ quốc. Lòng biết ơn này thể hiện ở sự tôn vinh và noi gương các anh hùng, liệt sĩ. Đây là đạo lý, sự tri ân, “lòng hiếu thảo”- một biểu hiện cốt lõi của đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam: “Uống nước nhớ nguồn“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.  

Trong 69 năm qua, từ khi có Ngày thương binh, liệt sĩ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng đến nay, phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” trong toàn Đảng, toàn Quân, toàn Dân phát triển mạnh, rộng khắp nước, có hiệu quả cao. Những chính sách, pháp lệnh của Đảng và Nhà nước với người có công, tìm hài cốt liệt sĩ trên các chiến trường xưa trong cả nước và trên đất nước bạn Lào, Cam-pu-chia, công tác quy tập mộ liệt sĩ, việc xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, tượng đài kỷ niệm, xây dựng nhà tình nghĩa, lập quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, tặng sổ tiết kiệm cho thương binh, gia đình liệt sĩ, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, biểu dương tấm gương của những người “tàn mà không phế”, trường học giành riêng cho con em gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, nhằm đào tạo con cái họ thành những cán bộ “nguồn” sau này,.. đã được thực hiện nghiêm túc, đạt kết quả cao, tác động lớn đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Noi gương hy sinh anh dũng của những người con trung hiếu, chúng ta đã đạp bằng khó khăn, anh dũng chiến đấu đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành Độc lập, thống nhất có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc, Tự do và Hạnh phúc cho nhân dân, và hiện nay đã và đang bảo vệ thành công Tổ quốc XHCN, xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 3, trang 242

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 4, trang 228.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 4, trang 486.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 4, trang 497

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 4, trang 510

[6] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 4, trang 511

[7] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 5, trang 49

[8] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 5, trang 204.

[9] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 5, trang 204-205.

[10] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 5, trang 497

[11] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 5, trang 579

[12] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 5, trang 580

[13] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 5, trang 579-580

[14] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 7, trang 455

[15] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 7, trang 455

[16] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 7, trang 455

[17] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 5, trang 650, 652

[18] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 9, trang 343

[19] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 9, trang 223-224

[20] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 15, trang 616-617

[21] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2013, tập 12, trang 401

 


Đang trực tuyến
  • Khách: 7
  • Thành viên: 0
  • Tổng số thành viên: 38,409
  • Thành viên mới nhất: webthanglong

  • Số lượt truy cập:

--- A D V E R T I S E M E N T
(click here) ---



Copyright © Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 





--- A D V E R T I S E M E N T (click here) ---
Trang bao cong nghe huu ich