Đại học Huế

Trang đào tạo tín chỉ

Trung Tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn

Trung tâm Thông tin - Thư viện

Khoa Môi trường

Khoa Điện tử - Viễn thông

Bộ môn Bản đồ, Viễn thám và GIS

Vật liệu gốm sứ thông minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam

Hoàng Ngọc Vĩnh (bút danh Thu Ngọc), ĐHKH Huế

Nguyên là chiến sỹ tình nguyện đã từng công tác tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, bản thân tôi luôn ý thức được mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng có vị trí vô cùng trọng đại đối với hai nước.

Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, đặc biệt là quan hệ hữu nghị Việt-Lào, Lào-Việt. Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là tài sản vô giá, là quy luật giành thắng lợi của hai dân tộc. Cùng chung lý tưởng chiến đấu, Việt Nam-Lào tuy là hai nước nhưng chung một dãy Trường Sơn và đều bị thực dân Pháp thống trị, áp bức và đế quốc Mỹ xâm lược. Muốn đánh thắng đế quốc xâm lược, giành độc lập dân tộc, giải phóng khỏi áp bức mang lại tự do-hạnh phúc cho nhân dân thì mỗi nước không thể đấu tranh riêng lẻ. Quan hệ Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là quan hệ đặc biệt quy định sự sống còn của hai dân tộc. Các điều kiện tự nhiên, địa-chiến lược, địa-quân sự là một trong những yếu tố đặt ra yêu cầu tất yếu về sự hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai dân tộc Việt Nam-Lào trong lịch sử chống ngoại xâm, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, khi sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam - Nguyễn Ái Quốc đã gây dựng được cơ sở tại Lào. Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào, Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham gia cuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mối quan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam–Lào, Lào–Việt Nam.

Từ giữa thế kỷ XX, Lào trở thành địa bàn đầu tiên trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, nơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương. Khi sáng lập Mặt trận Việt Minh, trong chương trình hành động của Mặt trận, Người khẳng định: “Liên hiệp và thân thiện với tất cả các dân tộc hèn yếu, nhất là dân tộc Miên, Lào, Tàu, Triều Tiên, Ấn Độ.”(1). Trong thư chúc tết Việt kiều ở Lào và Thái Lan năm 1946, Người viết: “Lào và Việt là hai nước anh em. Mối quan hệ giữa hai dân tộc rất là mật thiết. Đối với kiều bào ta làm ăn sinh sống ở đất nước Lào thì Lào lại như là một Tổ quốc thứ hai. Tục ngữ có câu: "Bán bà con xa, mua láng giềng gần" ý nghĩa là như thế.

Vậy nên sự đoàn kết chẳng những bao gồm đồng bào Việt, mà bao gồm cả đồng bào Việt với đồng bào Lào. Đoàn kết chặt thì lực lượng to. Lực lượng to thì quyết thắng lợi.

Bây giờ, hai dân tộc ta tuy còn phải khó nhọc, nhưng tương lai của chúng ta rất là vẻ vang. Đến ngày Việt-Lào được quyền hoàn toàn độc lập, anh em ta sẽ cùng hưởng phúc thái bình.”(2).

Trong Điện mừng nhân kỷ niệm ngày tuyên bố độc lập và ngày thành lập Chính phủ kháng chiến Lào 1953, Người viết: “Tôi tin chắc rằng trong công cuộc đấu tranh chính nghĩa đánh đuổi kẻ thù chung, để giành tự do và độc lập, nhân dân Pathét Lào, nhân dân Việt Nam và nhân dân Cao Miên, đoàn kết chặt chẽ trong khối liên minh Việt-Miên-Lào, nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn”(3).

 Trong suốt quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam, cách mạng Đông Dương, Người đề ra những chủ trương và giải pháp cụ thể chỉ đạo các cấp bộ đảng và phong trào cách mạng ba nước Đông Dương cùng như tăng cường mối quan hệ mật thiết, nương tựa lẫn nhau của ba dân tộc Việt Nam–Lào-Campuchia trên nguyên tắc bình đẳng và tự quyết cùng đấu tranh giành tự do, độc lập cho mỗi dân tộc, góp phần gìn giữ hòa bình trên thế giới: “Tôi muốn nói thêm một điểm là: … chúng tôi sẽ đoàn kết chặt chẽ với hai nước Khơme, Lào và các nước Đông- Nam Á, để góp phần vào sự nghiệp giữ gìn hoà bình châu Á và hoà bình thế giới.”(4). “Để giữ gìn và củng cố hoà bình, chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết đồng bào toàn quốc, Bắc Nam khăng khít một nhà. Đoàn kết với anh em Khơme và Lào.”(5). Điều này càng thể hiện rõ trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc của Người: “Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền”(6). Trong Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp Lêô Phighe, năm1950, Người lại tiếp tục khẳng định: “Ba nước sẽ bang giao với nhau trên nguyên tắc bình đẳng hoàn toàn và tôn trọng độc lập quốc gia của nhau”(7).

Người đã nhiều lần khẳng định nguyên tắc đoàn kết ấy giữa ba dân tộc Việt–Lào-Campuchia: “Chúng tôi muốn có quan hệ bạn bè với Lào và Miên trên cơ sở 5 nguyên tắc lớn đã được nêu ra trong các bản tuyên bố chung Trung-Ấn và Trung-Diến.”(8). “Chính sách ngoại giao của ta là: Đoàn kết chặt chẽ với nhân dân các nước bạn, nhân dân hai nước Cao Miên, Lào, nhân dân châu Á, nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới; và thực hiện 5 nguyên tắc lớn chung sống hoà bình.”(9). “Chúng tôi cần đặt mối quan hệ láng giềng tốt với các nước chung quanh. Chính phủ nước tôi đã từng tuyên bố rõ rệt sẵn sàng căn cứ vào 5 nguyên tắc chung sống hoà bình đã đề ra trong bản tuyên bố chung của các Thủ tướng Trung Quốc-Ấn Độ và Trung Quốc-Diến Điện để đặt mối quan hệ bình thường hữu hảo với bất cứ nước nào dù có chế độ xã hội khác nhau, đặc biệt là với các Chính phủ nhà vua Lào và Cao Miên cũng như với các nước khác ở Đông-Nam Á.”(10). “Riêng nhân dân Việt Nam ta và nhân dân hai nước Miên và Lào càng phải đoàn kết để đấu tranh chống đế quốc Mỹ can thiệp, thi hành đầy đủ Hiệp định Giơnevơ và để đưa lại hoà bình thật sự ở Đông Dương.”(11). “Chúng ta chủ trương tăng cường quan hệ hoà bình và hữu nghị với tất cả các nước, theo năm nguyên tắc chung sống hoà bình. Chúng ta mong muốn có quan hệ tốt với hai nước láng giềng Miên và Lào. Chúng ta sẽ tăng thêm quan hệ hữu hảo với các nước Đông-Nam Á, nhất là với Ấn Độ, Miến Điện, Nam Dương.”(12). “Những mối quan hệ giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với Vương quốc Lào và Vương quốc Khơme đều là những quan hệ láng giềng tốt dựa trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hoà bình. Chỉ có bọn thực dân là không hài lòng về việc thống nhất nước Lào và về việc Vương quốc Lào và Khơme theo đuổi chính sách hoà bình trung lập. Những mối quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa rất tốt đẹp và là những mối quan hệ anh em dựa trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi.”(13). “Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương đã lập lại hoà bình ở Việt Nam, Lào và Campuchia trên cơ sở công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước. Đối với Việt Nam, Hiệp định Giơnevơ quy định rõ thời gian hiệp thương và tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất nước nhà. Nhưng do đế quốc Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam, âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ để chuẩn bị gây chiến tranh cho nên đến nay, nước Việt Nam chưa được thống nhất. Nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cương quyết đấu tranh đòi thi hành đúng đắn Hiệp định Giơnevơ để thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở độc lập và dân chủ như Hiệp định Giơnevơ đã quy định.

Ở Lào, đế quốc Mỹ cũng phá hoại nghiêm trọng Hiệp định Giơnevơ về Lào, can thiệp ngày càng sâu vào Lào, đã gây ra cuộc nội chiến ở Lào. Tình hình đó đe doạ an ninh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và hoà bình ở Đông Dương và Đông-Nam Á.

Đế quốc Mỹ và Chính phủ Phủi Xananicon vu khống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để che giấu âm mưu của đế quốc Mỹ can thiệp vào nước Lào và biến nước Lào thành căn cứ quân sự để chuẩn bị chiến tranh.

Để bình thường hoá tình hình ở Lào, để bảo vệ nền hoà bình ở Đông Dương và Đông-Nam Á, con đường duy nhất là phải thi hành đúng đắn Hiệp định Giơnevơ về Lào năm 1954 và các hiệp định đã ký kết ở Viêngchăn giữa Vương quốc Lào và lực lượng Pathét Lào”(14). “Chúng tôi rất quý trọng tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt-Lào và luôn luôn ra sức tăng cường những mối quan hệ láng giềng giữa hai nước chúng ta. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trước sau như một trung thành với Hiệp định Giơnevơ về Lào và hết lòng ủng hộ chính sách hoà bình trung lập của Vương quốc Lào.

Qua chuyến đi thăm hữu nghị này của Nhà vua và các vị khách quý Lào, mối quan hệ hữu nghị và hợp tác thân thiện giữa hai nước chúng ta chắc chắn sẽ phát triển và củng cố mãi mãi.

Tôi đề nghị các vị cùng tôi nâng cốc:

Chúc quan hệ hữu nghị và sự hợp tác anh em giữa hai dân tộc Việt - Lào mãi mãi củng cố và phát triển...

Paxaxôn Việt-Lào Xamăckhi mặnnhưn!”(15).

Nguyễn Ái Quốc là kiến trúc sư vĩ đại của quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam về mọi mặt, đặc biệt là cùng mục đích chống kẻ thù chung. Khi nói về mối quan hệ nghĩa tình giữa hai Đảng, hai nước, hai dân tộc Việt Nam-Lào, Người đã nhấn mạnh, đó là mối “quan hệ đặc biệt” mà lịch sử đã chứng minh cái nghĩa, cái tình và tấm lòng thủy chung, son sắt, sát cánh bên nhau của hai Đảng, hai dân tộc Việt-Lào trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, giành độc lập tự do cho mỗi dân tộc và cùng nhau xây dựng hòa bình, hướng tới tương lai hạnh phúc: “Chính phủ và toàn thể nhân dân Việt Nam nhiệt liệt hoan nghênh việc thành lập một Uỷ ban giải phóng Việt-Miên-Lào, mục đích theo đuổi đến cùng cuộc chiến đấu chung để chống đế quốc và thực dân Pháp.”(16). “Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc anh em Miên, Lào thì sức mạnh đó đủ đánh tan thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ.”(17). “Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến. Bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là kẻ thù của ta và của dân tộc Miên, Lào. Vì vậy, ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào; và tiến đến thành lập Mặt trận thống nhất các dân tộc Việt-Miên-Lào.”(18). “Tôi sung sướng hơn nữa vì từ nay chẳng những là toàn dân Việt Nam đại đoàn kết, mà toàn dân hai nước anh em là Cao Miên và Ai Lao cùng đi đến đại đoàn kết. Tin mừng đại đoàn kết của hai dân tộc anh em ấy do các vị đại biểu Miên, Lào thân hành mang đến cho chúng ta.

Thế là dân tộc Việt đại đoàn kết, dân tộc Miên đại đoàn kết, dân tộc Lào đại đoàn kết. Rồi đây, chúng ta nhất định đi đến Việt-Miên-Lào đại đoàn kết.

Với sự đồng tâm nhất trí của ba dân tộc anh em, với sức đại đoàn kết của ba dân tộc anh em, chúng ta nhất định đánh tan lũ thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, chúng ta nhất định làm cho ba nước độc lập và thống nhất thật sự.”(19).

“Việt - Miên - Lào đại đoàn kết muôn năm!”(20).

Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rõ sự nghiệp cách mạng của hai nước Việt Nam-Lào có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau một cách đặc biệt, nên thường xuyên căn dặn: Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng tình đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt-Lào, đó vừa là nghĩa vụ quốc tế, vừa là lợi ích sống còn của mỗi nước. Người rất chăm chú theo dõi và dìu dắt, giúp đỡ phong trào cách mạng ở Lào với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”. Theo Người, Việt Nam kháng chiến thành công thì kháng chiến Miên, Lào mới thắng lợi và kháng chiến Miên, Lào thắng lợi thì kháng chiến Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi. Trong Điện mừng nhân kỷ niệm quốc khánh Lào 1952, Người viết: “Tôi xin chúc Chính phủ và nhân dân Lào thu được nhiều thắng lợi mới trong cuộc kháng chiến, và tin chắc rằng tình hữu nghị của hai dân tộc Lào-Việt sẽ đủ sức đánh đuổi kẻ thù chung là thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Lào nhất định thắng lợi! Lào-Việt đoàn kết muôn năm!”(21).

Trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 3 BCHTWĐLĐVN khóa II, năm 1952 Người khẳng định: “Vì mọi quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v.v. mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng. Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn, hoàn toàn. Cho nên nhiệm vụ của ta lại phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực, thiết thực hơn. Đó là nhiệm vụ quốc tế của chúng ta.”(22).

Người luôn luôn khẳng định, Chính phủ, Mặt trận và nhân dân Việt Nam ra sức hết lòng, thành thực giúp đỡ Mặt trận nhân dân Lào, Miên một cách không điều kiện, giúp nước bạn tức là tự giúp mình nên phải ra sức giúp đỡ một cách tích cực, thiết thực hơn. Trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 4 BCHTWĐLĐVN khóa II, 1953, Người chỉ rõ: “Cho đến nay, chúng ta giúp kháng chiến Miên-Lào chưa đúng mức. Từ nay chúng ta phải cố gắng giúp hơn nữa. Ta phải nhận rõ rằng: hai dân tộc anh em Miên, Lào được giải phóng, thì nước ta mới được giải phóng thật sự và hoàn toàn.”(23). “Nhân dân Việt Nam đoàn kết với nhân dân Khơme và Lào, được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ, sẽ tiếp tục đập tan những âm mưu xâm lược của đế quốc Mỹ.”(24). Lời phát biểu trong buổi chiêu đãi đoàn đại biểu chính phủ vương quốc Lào, 1956, Người nói: “Từ xưa đến nay, hai nước Việt và Lào là láng giềng và hai dân tộc ta là anh em.

Nhưng gần một thế kỷ qua, đế quốc chủ nghĩa hung ác đã đến chia rẽ chúng ta, tách rời chúng ta.

Nhờ tình yêu nước, nhờ tình đoàn kết và sự đấu tranh anh dũng của hai dân tộc ta, mà đế quốc chủ nghĩa đã bị đuổi đi, nước chúng ta đã giành lại độc lập. Chúng tôi nghĩ rằng đã đến lúc để chúng ta nối lại mối quan hệ anh em.

Việc các vị đến thăm Việt Nam sẽ mở đường cho sự nối lại quan hệ ấy.

Nhân dịp tốt đẹp này, tôi xin tuyên bố rằng nhân dân và Chính phủ Việt Nam tuyệt đối tôn trọng Hiệp định Giơnevơ và năm nguyên tắc chung sống hoà bình của Băngđung; và tất cả mọi vấn đề giữa hai nước Việt, Lào, chúng ta đều có thể giải quyết với tinh thần láng giềng thân thiện và tình nghĩa anh em.

Chúng tôi chúc nhân dân Lào anh em nhiều hạnh phúc và thịnh vượng. Chúng tôi coi hạnh phúc và thịnh vượng của anh em Lào cũng như của mình.”(25).

Người từng chỉ thị: “Các ngành, các cơ quan, các địa phương, mọi người dân phải tham gia đắc lực vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, đồng thời phải tích cực giúp đỡ nhân dân Lào. Lào ở bên cạnh ta. Bây giờ Mỹ cũng gây chiến tranh ở đó. Nếu Mỹ và bọn phản động Lào thắng ở Lào, tức là có hại cho ta, hại nhiều không phải ít.”(26).

Ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Hoàng thân Xuphanuvông đến Hà Nội. Cuộc gặp gỡ đã có tác động mạnh mẽ, quyết định đối với Hoàng thân trong việc chọn lựa con đường làm cách mạng. Trong Điện mừng ngày thành lập Chính phủ Lào độc lập, Người khẳng định với Hoàng thân Xuphanuvông: “Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Chính phủ Pathét Lào, tôi trân trọng chúc Ngài và chúc nhân dân Lào đạt được nhiều thành công lớn lao trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Tôi xin thay mặt nhân dân Việt Nam tỏ tình đoàn kết với nhân dân Lào; tình đoàn kết thân ái đó sẽ mỗi ngày một tăng cường trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung và là điều kiện căn bản cho cuộc thắng lợi chắc chắn của chúng ta.”(27).  Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của ĐLĐVN năm 1960, Người tuyên bố: “Trong công cuộc đấu tranh chung để bảo vệ hoà bình và độc lập dân tộc ở Đông Dương, nhân dân Việt Nam ta kiên quyết ủng hộ cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Lào hiện nay nhằm chống đế quốc Mỹ, nhằm đưa nước Lào lên con đường hoà hợp dân tộc, độc lập, thống nhất và hoà bình trung lập. Chúng ta thành tâm mong rằng quan hệ hữu nghị giữa nước ta và các nước láng giềng, trước hết là Campuchia và Lào, được xây dựng và phát triển tốt.”(28).

Khẳng định mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước Việt Nam-Lào, Người đã từng viết: “Ngày nay, hai nước chúng ta đã độc lập. Chúng ta có đủ mọi điều kiện để củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta và các nước bầu bạn khác, để giúp đỡ lẫn nhau trong công cuộc xây dựng đất nước phồn thịnh và cải thiện đời sống của nhân dân chúng ta. Ngày nay chúng ta dễ dàng đi lại thăm viếng lẫn nhau: Bấy lâu cách trở sơn hà,/  Từ nay Lào - Việt rất là gần nhau.”(29). “Hai dân tộc Việt và Lào sống bên nhau trên cùng một dải đất, cùng có chung một dãy núi Trường Sơn. Hai dân tộc chúng ta đã nương tựa vào nhau, giúp đỡ lẫn nhau như anh em. Trải qua nhiều năm đấu tranh gian khổ và anh dũng, nhân dân hai nước chúng ta đã giành được độc lập, đã làm chủ đất nước của mình. Ngày nay chúng ta lại đang giúp đỡ nhau để xây dựng một cuộc sống mới. Tình nghĩa láng giềng anh em Việt-Lào thật là thắm thiết không bao giờ phai nhạt được.”(30). “Chúng tôi tin chắc rằng cuộc đi thăm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lần này của Nhà vua sẽ mở ra một trang sử mới trong quan hệ láng giềng tốt đẹp giữa hai nước, sẽ thắt chặt hơn nữa tình hữu nghị lâu đời giữa hai dân tộc chúng ta vì lợi ích của hai dân tộc Việt Nam và Lào, vì sự nghiệp giữ gìn hoà bình ở Đông Dương, Đông-Nam Á và thế giới.”(31). “Thời gian đi thăm có hạn. Tình nghĩa hữu nghị khôn cùng. Tiễn đưa Nhà vua và các vị hôm nay, lòng nhân dân Việt Nam vô cùng lưu luyến. Cuộc đi thăm nước Việt Nam của Nhà vua và các vị làm cho hai nước chúng ta đã gần nhau về địa dư lại càng gần nhau về tình nghĩa. Sự hiểu biết lẫn nhau và mối quan hệ hợp tác thân thiện giữa hai dân tộc anh em đã tiến lên một giai đoạn mới mẻ và tốt đẹp. Hôm nay, Nhà vua và các vị rời đất nước chúng tôi, song những hình ảnh đẹp đẽ của cuộc đi thăm vẫn lưu lại lâu dài trong lòng chúng tôi. Thật là: Thương nhau mấy núi cũng trèo,/ Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua./ Việt Lào, hai nước chúng ta,/ Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.”(32).  “Đối với Vương quốc Lào, là nước láng giềng, chúng ta luôn luôn mong muốn và sẵn sàng phát triển quan hệ hữu nghị về mọi mặt. Chúng ta hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Lào, chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ, ủng hộ những cố gắng của Chính phủ liên hợp ở Lào do Hoàng thân Xuvana Phuma làm Thủ tướng, nhằm thực hiện Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào, bảo vệ nền hoà bình, trung lập của Lào. Chúng ta thành thật chúc Chính phủ liên hợp Lào sớm thực hiện được hoà hợp dân tộc, mau chóng ổn định tình hình để xây dựng một nước Lào phồn vinh.”(33).

Từ quan hệ truyền thống, thân thiện lâu đời giữa hai dân tộc, mối quan hệ Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam đã phát triển thành quan hệ đặc biệt. Quan hệ đặc biệt này do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng nền móng và chính Người cùng đồng chí Cayxỏn Phômvihản, đồng chí Xuphanuvông và các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước dày công vun đắp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, sau này là Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Việt Nam. Mối quan hệ đặc biệt đó được xây dựng trên nền tảng lòng yêu nước nồng nàn kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng, tình đoàn kết thủy chung và niềm tin về lòng chân thành, trong sáng của hai dân tộc Việt Nam, Lào dành cho nhau, giúp đỡ nhau cao nhất cùng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng ở mỗi giai đoạn; được xây dựng trên những quan điểm, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế phù hợp với điều kiện cụ thể của hai dân tộc Việt Nam–Lào; được nuôi dưỡng, phát triển bằng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “giúp bạn là tự giúp mình”, đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển tương lai của hai dân tộc.

Cho dù các thế lực thù địch đã và đang dùng nhiều thủ đoạn chống phá, chia rẽ, nhưng trải qua nhiều gian nan, thử thách khắc nghiệt, quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào vẫn vẹn nguyên, không hề bị rạn nứt, không hề bị phá vỡ. Quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam đã được khẳng định trong lịch sử, in đậm những mốc son sáng chói về tình nghĩa ruột thịt, thủy chung trong sáng, nương tựa lẫn nhau, sống chết có nhau. Gần thế kỷ qua, mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng Việt Nam, Lào, là di sản văn hóa của hai dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam, Lào đi tới nhiều kỳ tích: Thắng thực dân Pháp giành độc lập dân tộc ở hai nước 1945; chiến thắng Sầm Nưa ở Lào 1953; chiến thắng Điện Biên Phủ ở Việt Nam 1954. Ngày 5/9/1962, hai nước đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Sau chiến thắng đế quốc Mỹ và tay sai ở mỗi nước, tháng 12/1975, nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào được thành lập. Ngày 18/7/1977, Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào đã được ký kết; Thắng lợi của công cuộc đổi mới hiện nay ở mỗi nước.

Ngày 5/9/1962, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Vương quốc Lào đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào suốt 50 năm qua được xây đắp, nuôi dưỡng bằng công sức, của cải, xương máu của nhiều thế hệ cách mạng người Việt Nam và Lào, mang tính xuyên suốt, toàn diện và bền vững. Xây dựng, bảo vệ và phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam là sự nghiệp lâu dài, bền vững của hai Đảng, hai Dân tộc và Nhân dân hai nước Việt Nam, Lào. Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 35 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam-Lào (18/7/1977-18/7/2012) và 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước (5/9/1962-5/9/2012), tại thủ đô Hà Nội sáng 18/7/2012, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Hơn bao giờ hết, chúng ta cần tiếp tục củng cố tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt–Lào, coi đây là lẽ sống, là nghĩa tình trước sau như một, dù gian nguy đến đâu cũng không hề lay chuyển. Chúng ta nguyện giữ gìn và bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt–Lào như giữ gìn và bảo vệ con ngươi của mắt mình, quyết tâm cùng với Đảng và Nhà nước Lào anh em, phát triển, làm phong phú và sâu sắc thêm và thúc đẩy mạnh mẽ và ngày càng đi vào chiều sâu, coi đây là tài sản thiêng liêng vô giá được trao truyền lại mãi cho các thế hệ mai sau”(34).  

Chú thích:

1. Chương trình Việt Minh-1944, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 584

2. Thư chúc tết Việt kiều ở Lào và Xiêm1946,  Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 4,trang 139-140

3. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 7, trang 152

4. Bài phát biểu trong buổi đón tiếp phái đoàn quốc tế 1954, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 7, trang 330

5. Lời kêu gọi nhân kỷ niệm CMT8 và ngày quốc khánh-1954, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 7, trang 339

6. Lời kêu gọi Liên hợp quốc, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000,  tập 4, trang 470.

7. Trả lời phỏng vấn nhà báo Pháp LÊô PHIGHe1950, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 6, trang 92

8. Trả lời phỏng vấn của phóng viên hãng thông tấn  PRESS TRUST OF INDIA  1955,  Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 7, trang 435

9. Lời phát biểu tại phiên họp bế mạc Quốc hội nước VNDCCH khóa I kỳ họp thứ 4-1955, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 7, trang 500

10. Diễn văn trong buổi tiệc thủ tướng Chu Ân Lai thết đoàn đại biểu chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa 1955, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 8, trang 8

11. Lời chúc mừng năm mới 1956, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 8, trang 103

12. Lời phát biểu trong cuộc mitin chào mừng đoàn đại biểu chính phủ Liên Xô thăm nước ta - 1956, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 8, trang 142

13. Tuyên bố tại cuộc họp báo ở Niu Đêli (ấn Độ) Về vấn đề thống nhất nước Việt Nam, quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng và các nước trong phe XHCN-1958, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 9, trang 47-48

14. Trả lời phóng vấn nhà báo Nhật Bản SIRA ISI BÔN-1959, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 9, trang 513-514

15. Lời cảm ơn trong buổi chiêu đãI do vua Lào tổ chức 1963, T11, tr42-43

16. Gửi chính phủ Cao Miên giải phóng1947, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 5, trang 47

17. Trả lời các nhà báo về vấn đề đế quốc Mỹ can thiệp vào Đông Dương1950, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 6, trang 74

18. Báo cáo chính trị tại ĐH2 của Đảng 1951, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 6, trang 174

19. Bài nói tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh-Liên Việt1951, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 6, trang 181

20. Bài nói tại buổi khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh-Liên Việt1951, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 6, trang 182

21. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 6, trang 577

22. Báo cáo tại Hội nghị lần thứ 3 BCHTWĐ khóa II,1952, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 6, trang 452

23. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 7, trang 18

24. Từ ngày chúng ta bắt tay vào cuộc kháng chiến, đế quốc Mỹ đã nhúng tay vào xâm lược Đông Dương-1954, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 7, trang 406

25. Lời phát biểu trong buổi chiêu đãi đoàn đại biểu chính phủ vương quốc Lào 1956, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 8, trang 240-241

26. Bài nói chuyện tại HN cán bộ CC nghiên cứu NQ lần thứ 12 BCHTWĐ 1966, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 12, trang 17

27. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 6, trang 313

28. Diễn văn khai mạc ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ III của ĐLĐVN 1960, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 10, trang 200-201

29. Lời chào mừng trong buổi đón tiếp vua Lào XRIXAVANG VATTHANA-1963,  Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 11, trang 35-36

30. Diễn văn trong buổi chiêu đãi vua Lào XRI XAVANG  VATTHANA 1963, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000,  Tập 11, trang 37

31. Diễn văn trong buổi chiêu đãi vua Lào XRI XAVANG  VATTHANA 1963, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 11, trang 40

32. Lời phát biểu trong buổi lễ tiễn vua LÀO XRI XAVANG  VATTHANA 1963, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 11, trang 44-45

33. Báo cáo tại Hội nghị chính trị đặc biệt 1964, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, Tập 11, trang 232

34. http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/81110/nu

 


Đang trực tuyến
  • Khách: 5
  • Thành viên: 0
  • Tổng số thành viên: 38,433
  • Thành viên mới nhất: trontrsr

  • Số lượt truy cập:

--- A D V E R T I S E M E N T
(click here) ---



Copyright © Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 





--- A D V E R T I S E M E N T (click here) ---
Trang bao cong nghe huu ich