Đại học Huế

Trang đào tạo tín chỉ

Trung Tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn

Trung tâm Thông tin - Thư viện

Khoa Môi trường

Khoa Điện tử - Viễn thông

Bộ môn Bản đồ, Viễn thám và GIS

Cách đây 70 năm Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt nam

Từ năm 1930 đến năm 1940 là thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động ở nước ngoài trên cương vị là Uỷ viên Ban phương Đông của Quốc tế Cộng sản, phụ trách Văn phòng phương Nam và trực tiếp chỉ đạo cách mạng Đông Dương.

Đầu năm 1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của ĐảngLời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng do Người soạn thảo đã vạch ra đường lối chiến lược, sách lược cách mạng, tính chất và nguyên tắc tổ chức Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Các văn kiện này thể hiện tinh thần cách mạng triệt để và sáng tạo, kết hợp đúng đắn lý luận với thực tiễn Việt Nam. Quan điểm cơ bản của các văn kiện này có giá trị xuyên suốt con đường cách mạng nước ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm thực hiện mục tiêu đại nghĩa của dân tộc là “Việt Nam độc lập”, “Việt Nam tự do”, là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ nước ngoài, Người đã nêu nhiều ý kiến đúng đắn để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng. Đảng phải “giành được địa vị lãnh đạo”, củng cố địa vị lãnh đạo của Đảng trên cơ sở quần chúng thừa nhận Đảng là “một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất”, “thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng”[1].

Những bài viết của Người ở đầu những năm 30 còn vạch rõ Đảng phải chú ý phát triển lực lượng cách mạng trong nhân dân như Công hội, Nông hội, tăng cường mối liên minh công nông cũng như phải đề ra những chính sách cụ thể phù hợp với mỗi thời kỳ để tập hợp và lãnh đạo đông đảo quần chúng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Những chỉ dẫn về nội dung, phương pháp tuyên truyền, giáo dục quần chúng cũng được Người đề cập cụ thể nhằm tăng cường lực lượng cách mạng cho Đảng ở thời gian này.

Trong điều kiện biến đổi của tình hình thế giới nửa sau những năm 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn cho Đảng những ý kiến rất cụ thể để phối hợp với nhiệm vụ chung của nhân dân thế giới vừa chống chủ nghĩa phát xít, vừa phát triển lực lượng cách mạng, tăng cường vai trò của Đảng. Người chỉ rõ mục tiêu của đấu tranh cách mạng lúc này là “Đảng không nên đưa ra những đòi hỏi quá cao (độc lập dân tộc, nghị viện, v.v.)... Chỉ nên đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do báo chí và tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp”[2]. Để đạt mục đích đó, Người nhắc nhở Đảng phải ra sức tổ chức một mặt trận dân tộc, dân chủ rộng rãi, phải “khéo léo, mềm dẻo” để tập hợp tất cả mọi tầng lớp nhân dân, kể cả giai cấp tư sản dân tộc, nhưng phải kiên quyết không có một thoả hiệp, một nhượng bộ nào với bọn tờrốtxkít, phải tiêu diệt chúng về mặt chính trị. Những báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, những thư gửi cho Đảng cũng như những bài báo của Người đăng trên báo Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta) và báo Dân chúng đã chỉ dẫn cho Đảng và nhân dân ta hướng đúng vào việc phát triển lực lượng cách mạng, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và chống thảm hoạ phát xít đang lan rộng trên thế giới. Trước khi về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết một loạt bài đăng trên báo xuất bản ở Trung Quốc chỉ rõ nguy cơ của chủ nghĩa phát xít, ca ngợi cuộc đấu tranh chống phát xít Nhật của nhân dân Trung Quốc, sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam với nhân dân Trung Quốc trong chiến đấu chống phát xít Nhật và coi việc giúp đỡ đó là giúp đỡ cho chính mình.

Do ảnh hưởng của khuynh hướng tả khuynh của Quốc tế Cộng sản ngày ấy, Đảng ta đã phạm sai lầm về đường lối đại đoàn kết, không phân biệt được đặc điểm riêng của Việt Nam với châu Âu, không phân biệt chính xác bạn, thù, nên Cao trào Xô viết Nghệ tĩnh dù có thành tựu to lớn là “cuộc tổng diễn tập biểu dương sức mạnh vũ trang đầu tiên của dân tộc ngay sau khi có Đảng lãnh đạo”, nhưng tổn thất của cách mạng là không nhỏ: phần bị thực dân Pháp khủng bố trắng, phần là đã giết nhầm lẫn nhau. Sai lầm này một phần đã được khắc phục tại Hội nghị Trung ương VI năm 1935, nhưng mãi đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì mới được khắc phục triệt để tại Hội nghị Trung ương VIII năm 1941 do chính Người chủ trì-lãnh đạo.

Năm 1941, trước những chuyển biến của tình hình thế giới, nhận rõ tình thế khẩn trương của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước ta. Người chủ trì Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng (5-1941) và xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng nước ta lúc này. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, phải tập hợp lực lượng quần chúng đông đảo, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chính là phát xít Nhật - Pháp; thành lập Mặt trận Việt Minh, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước ở Đông Dương; tiến tới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, xúc tiến thành lập và phát triển lực lượng vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa; đồng thời giúp đỡ cách mạng Miên, Lào, v.v..

Ngay sau khi thành lập Mặt trận Việt Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư Kính cáo đồng bào, kêu gọi 20 triệu con Lạc cháu Hồng hãy nêu cao truyền thống yêu nước, anh hùng bất khuất, đoàn kết toàn dân đánh đuổi Pháp - Nhật. Người chỉ rõ: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng” “giành tự do độc lập”[3]. Có thể nói tư tưởng cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong Kính cáo đồng bào cũng như trong các văn kiện của Hội nghị lần thứ tám của Trung ương Đảng là sự tiếp nối và phát triển cao của tư tưởng độc lập tự do và đại đoàn kết toàn dân của Người được nêu lên trong các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Đường cách mệnh (1927) và các văn kiện chính trị của Hội nghị thành lập Đảng. Đây là một sự phát triển sáng tạo về tư tưởng và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong điều kiện mới của thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết một loạt tác phẩm như Chiến thuật du kích, Lịch sử nước ta, Mười chính sách của Việt Minh và nhiều bài trên báo Việt Nam Độc lập, đã cụ thể hoá Nghị quyết của Hội nghị lần thứ tám của Trung ương nhằm đẩy mạnh việc giáo dục mạnh mẽ tinh thần yêu nước bất khuất, đoàn kết các giới đồng bào trong Mặt trận Việt Minh, hướng dẫn xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, góp phần tạo ra một cao trào cứu nước mạnh mẽ, đón thời cơ, tiến tới tổng khởi nghĩa giành lại độc lập dân tộc.

Thời gian này, tác phẩm Nhật ký trong tù của Người ra đời trong hoàn cảnh bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trái phép khi Người đi công tác sang Trung Quốc. Đây là một văn kiện lịch sử quan trọng, đồng thời là một tác phẩm văn học lớn thể hiện tư tưởng, tình cảm của một chiến sĩ cách mạng vĩ đại - có tác dụng giáo dục sâu sắc đối với nhiều thế hệ người Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước vào tháng 9-1944, là lúc cuộc chiến tranh thế giới đã bước sang giai đoạn cuối cùng với những thắng lợi quyết định của Liên Xô. Các văn kiện của Người ở thời gian này đều tập trung vào phát triển lực lượng chính trị, quân sự tạo lực lượng đón thời cơ và góp phần thúc đẩy thời cơ mau chín muồi. Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã nêu lên những quan điểm cơ bản về kháng chiến toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, về quan hệ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, về nguyên tắc tác chiến, v.v.. Trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Người đã nêu rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh”[4]. Phải chớp thời cơ thuận lợi đang đến để thực hiện mục tiêu độc lập tự do. Vì vậy, Người quyết định nhanh chóng triệu tập “một cuộc toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra” một cơ cấu đại biểu của quốc dân. “Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”[5]. Điều này đã đặt cơ sở pháp lý cách mạng cho một chế độ mới, chế độ của dân, do dân và vì dân sắp ra đời. Tháng 8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa kêu gọi toàn thể đồng bào “không thể chậm trễ”, “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”[6]. Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa thể hiện tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tính chủ động cách mạng ở các nước thuộc địa mà Người đã nêu lên từ đầu những năm hai mươi đã trở thành hiện thực ở Việt Nam trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập nêu ra những lẽ phải không ai chối cãi được về quyền dân tộc cơ bản là: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[7]. Từ đó, Người đã khẳng định quyền dân tộc cơ bản không thể phủ nhận được của dân tộc Việt Nam và trịnh trọng tuyên bố trước nhân dân thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[8].

Bản Tuyên ngôn Độc lập, tác phẩm bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường bất khuất của dân tộc ta, là bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập tự do và góp phần làm phong phú tư tưởng về quyền của các dân tộc trên thế giới - quyền độc lập tự do.

Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh đều giống nhau ở chỗ: trong sự nghiệp cách mạng của họ đều hướng đến cả ba mục đích giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Nhưng do bối cảnh lịch sử quy định mà Mác, Ăngghen và cả Lênin đều tuyệt đối hóa vấn đề giai cấp và hạ thấp vấn đề dân tộc. Khi bước lên vũ đài chính trị, với bối cảnh quốc tế mới, đặc biệt là bối cảnh lịch sử của Việt Nam, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đề cao vấn đề dân tộc nhưng không hạ thấp vấn đề giai cấp. Nhờ kiên định lập trường này mà Người đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi ngày càng vang dội hơn. Lịch sử Việt Nam và nhân loại hiện nay ngày càng chứng minh thiên tài cách mạng ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hoàng Ngọc Vĩnh, ĐHKH Huế* 



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 138.

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 138.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 198.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 505-506.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 505.

[6] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 554.

[7] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 555.

[8] Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 3, trang 557.

* Viết theo Lời giới thiệu tập 3, Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000.


Đang trực tuyến
  • Khách: 6
  • Thành viên: datuvc
  • Tổng số thành viên: 38,216
  • Thành viên mới nhất: felixnguyen

  • Số lượt truy cập:

--- A D V E R T I S E M E N T
(click here) ---



Copyright © Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 





--- A D V E R T I S E M E N T (click here) ---
Trang bao cong nghe huu ichmua bán nhà đất nam từ liêmtăng view youtubePhỏng vấn visa đi Mỹ