Khoa Ngữ văn

3821133
 
Một lứa bên trời

Trần Tuấn

K10

 

Bạn bè Văn K10 thường tự nhận là lười như ...K10. Lười đến mức Khoa giao hẹn nộp bài viết về K10 để in sách nhân ngày hội trường, kêu bạn bè mỗi đứa góp một mẩu cho “công bằng”, nhưng chẳng đứa nào thèm động đậy. Mà nói chung con người ta bây giờ ai nấy đều lười. Nhiều đứa là bạn học cũ cùng ở thành phố, thị xã với nhau mà cả năm còn chưa gặp nhau nữa là !

 Lười ngay từ hồi còn là lũ chíp hôi đùm túm cơm gạo tứ xứ tụ về 27 Nguyễn Huệ - Huế cách đây 26 năm (1986). 

“Lười” như Lê Đức Dục, chẳng chịu sắm sanh, toàn tiện thể khoác tạm quần áo (mới) của lũ cùng phòng, cả đồng hồ, xe đạp để đi…tán gái. Xong lại hớn hở về trả. Có đồng nào là dốc vào mua hoa hồng đem lên đồi Thiên An chôn dưới…gốc thông già ! Mãi sau mới biết đó là nơi đầu tiên chàng tỏ tình với một nàng khoa Anh cùng trường. Nhưng hình như không thành (vì bằng chứng là vợ chàng bây giờ không phải nàng ấy !). “Lười” như Dương Thế Sinh, học hết 4 năm rồi mà chẳng chịu làm khóa luận tốt nghiệp! Đại Lãn như Nguyễn Đình Thơm, bọn trong phòng vẫn gọi là Ama Thơm, chẳng rượu chè bia bọt cà pháo cà phê. Chiều nào cũng vậy, quất bụng cơm xong là nằm khểnh, gác chân lên thành giường đọc thơ Xuân Diệu, Thế Lữ… Cứ ngâm nga thành tiếng, rồi lại ý vị khụt khịt cười một mình. Như Nguyễn Minh Tuấn, ngại đám đông, chỉ thích ăn uống một mình ở trong…mùng !

           “Lười yêu” như Trà Xuân Phương, Trần Văn Thiện, bạn bè sắp sửa làm sui gia có cháu nội cháu ngoại đến nơi, mà đến giờ hai chàng vẫn cố thủ “phòng không”. Như Võ Tấn Cường, Phan Quang Mười, Nguyễn Văn Cương tới năm 36, 37 tuổi mới chịu “lên thuyền” lấy vợ. Như Lê Văn Nhi, băm mấy tuổi rồi chẳng chịu nghiên cứu tìm hiểu gì, “lười” quá bèn cưới luôn cô em vợ xinh xắn của thằng bạn thân cùng lớp là Đinh Văn Dũng. Hai tên Quảng Nam này hồi ở Huế gắn nhau như sam. Ở cùng phòng, ăn cùng mâm, rồi về cùng làm một báo. 

Nhớ hồi ấy, Thầy Phan Đăng – Chủ nhiệm Khoa, nguyên là chủ nhiệm lớp K10 có nói một câu, đại ý rằng cái lớp ni lạ lắm. Hiền, nhưng cũng chẳng phải hiền, lanh lẹn nhưng cũng chẳng phải lanh lẹn. Rất “đặc biệt” kiểu răng đó …

Ra trường, mấy chục năm ngó lại, càng thấy lời Thầy Đăng đúng, dù vẫn không rõ cái “kiểu răng đó” là ra răng !

Như Lê Văn Nhi, người hiện giờ có ngạch quan cao nhất trong số 22 đứa K10. Anh chàng hiền lành củ mỉ cù mì, suốt thời sinh viên, không rượu không thuốc không yêu, không chơi không thơ thẩn quậy phá. Được giữ lại trường dạy ngôn ngữ, cũng không nhận. Về quê ở với mẹ mấy năm. Rồi lên một cái huyện trung du làm chân thư lại ở văn phòng huyện ủy. Rồi lại về. Cậu bạn Đinh Văn Dũng đang làm ở báo Quảng Nam (hồi đó mới tách tỉnh) thấy vậy bèn kéo về báo làm phóng viên. Nghĩa là “chấp” tụi cùng lớp cùng lứa nhiều năm trời về cái ngạch bậc nhà nước. Ấy vậy bây giờ Lê Văn Nhi đã là Tỉnh ủy viên, Tổng biên tập báo Quảng Nam cũng được lâu lâu rồi !   

Trong lớp K10, sự cay nghiệt nhất của số phận đã gieo xuống một người, từ rất sớm, trong một hoàn cảnh thật khó tin: Một sinh viên Văn khoa lại mất tích giữa trùng khơi bão tố trong tư thế của một ngư dân ! Đó là Trần Thanh Anh, quê ở vùng biển Tam Giang (huyện Núi Thành, Quảng Nam). Hồi đi học, Trần Thanh Anh hay viết nhật ký, chép và thuộc nhiều thơ, sống tâm hồn và cũng siêng chuyện củi nước nấu nướng quét tước giúp bạn bè. Dù nhà làm nghề biển rất nghèo, ba mất sớm, nhưng mỗi lần Thanh Anh từ quê ra Huế là cả phòng ký túc xá đều hồ hởi vì sắp được bữa no. Nào là mắm muối, cá khô cá tươi, tôm mực … Nhất là sau những tháng hè, cậu tranh thủ theo tàu ra khơi đánh bắt, rồi dành dụm đùm túm mang ra Huế cho bạn bè. Ai cũng quý cái tình của Thanh Anh. Nhớ cái đợt cả lớp đi lao động trồng cây ở Hương Thọ cuối năm 1988, về 4 đứa dính sốt rét. Thanh Anh nặng nhất, đưa vào trạm y tế gần cầu Kho Rèn. Run bần bật. Họa vô đơn chí, trong lúc mê man ở bệnh viện thì bị trộm quơ sạch quần áo lẫn mấy đồng tiền còm giắt lưng. Bạn bè cùng lớp huy động gom hết quần áo mới đem đi cầm để lấy tiền thuốc men, đường sữa. Năm 1990 ra trường, cũng như bạn bè, Thanh Anh chạy  khắp nơi tìm việc nhưng chẳng đâu nhận. Cuối cùng, một đài phát thanh truyền hình nọ ở Tây Nguyên đồng ý nhận hồ sơ, nhưng nghe đâu khả năng lọt cũng chỉ khoảng 70-80%. Mùa hè năm 1992 định mệnh ấy, về quê, Trần Thanh Anh quyết định theo thuyền ra khơi câu mực chuyến cuối cùng để kiếm ít tiền tính để “cám ơn” người ta. Thế rồi một đêm khi đang ngồi trên thúng câu thì gặp cơn bão số 1 quét ngang, đến giờ sau tròn 20 năm bạn vẫn chưa về !

Có một dạo, bạn bè trong lớp kéo nhau về Tam Giang. Người mẹ già nua bên mái nhà ẩm tối xập xệ nơi xứ cát. Gom góp được ít tiền giúp mẹ sửa lại mái nhà…

 Quê Quảng Nam, ngoài Trần Thanh Anh và Lê Văn Nhi, lớp K10 còn có Phan Quang Mười, Trần Văn Phương, Võ Tấn Cường, Đinh Văn Dũng, Nguyễn Đình Thơm. Ama Thơm nay là Hiệu trưởng trường cấp 2 Quế Phong (Quế Sơn, Quảng Nam). Hồi lâu tôi có ghé thăm vợ chồng Ama Thơm. Ngôi nhà nhỏ với 2 đứa con nhỏ, chỉ có tủ sách là to. Vợ Thơm cũng là giáo viên, là Hiệu phó trường tiểu học xã Quế Phong. Ra trường năm 1990, Thơm bỏ vài năm đi tìm việc, vào tận Sài Gòn. Đến 1993 chán, quay về làng gõ đầu trẻ, từ THCS Quế Lộc, sang Quế An, giờ ổn định luôn ở Quế Phong. Cũng quẩn quanh dưới chân đèo Le nổi tiếng với câu thơ của cụ Khương Hữu Dụng “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng”. Bố yêu văn, nhưng hai đứa con giỏi Toán mới lạ. Cậu trai đầu lớp 9, cô gái sau lớp 6, cùng trong đội tuyển học sinh giỏi Toán của huyện. Phan Quang Mười hồi nhỏ sau một tai nạn bom mìn bị mất một cánh tay, khi đi học ai cũng tưởng…thương binh! Do khiếm khuyết ấy, ra trường khó kiếm việc. Thầy Phan Đăng biết chuyện, gợi ý chân tình “Hay là em làm đơn xin ở lại trường, thầy giúp cho !” (thế mới biết cái tình của khoa Văn). Làm anh giáo dạy Anh văn cấp 2 ở một huyện núi tỉnh Đồng Nai được mấy năm, Mười về quê vào báo Quảng Nam. Mãi 37 tuổi gặp may cưới được cô giáo trẻ khá xinh, hiện có hai cậu con trai 10 tuổi và 7 tuổi, nhà cửa đề huề ở Tam Kỳ. Lại được “sếp” Lê Văn Nhi bố trí chức đổng lý văn phòng của báo.

Võ Tấn Cường quê Hội An, sau mấy năm bộ đội đóng quân Tây Nguyên về học, được bạn bè gọi đùa là “thầy tu”, bởi từ nhỏ đã nhiều năm ở chùa. Số cũng khá lận đận, chạy khắp nơi xin việc không xong, đành ôm hồ sơ về…chùa quét lá ! Chùa Pháp Bảo ở Hội An thời ấy được gọi là chùa tỉnh hội, vị sư trụ trì là người trong họ với Cường. Sau đó xin đi dạy học ở trường Bổ túc văn hóa Hội An. Từ 7 năm nay, Võ Tấn Cường là giáo viên Văn trường THPT Nguyễn Trãi. Có 1 đứa con trai nay học lớp 11. Đinh Văn Dũng đang phụ trách trị sự báo Quảng Nam thì xin về báo Đà Nẵng để gần vợ con gia đình, giờ là Phó phòng Tổ chức hành chính báo này.     

Trần Văn Phương, anh chàng đẹp trai tóc dài quê Duy Hòa (Duy Xuyên, Quảng Nam) sau khi ra trường, theo người yêu cùng lớp là Phạm Thị Hường vào Quảng Ngãi quê nàng lập nghiệp. Phương giờ là Trưởng phòng Tổ chức cán bộ và Khiếu tố (Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi). Còn Hường, dù thuộc diện được giữ lại Khoa làm giảng dạy nhưng quyết về quê. Sau mười mấy năm là cán bộ Hội Phụ nữ tỉnh, giờ chuyển sang làm Phó chánh văn phòng Sở Công thương của tỉnh. Hai đứa con một trai một gái, đứa đầu đã vào lớp 11. 

Ở Huế, lớp K10 hiện có 4 người, thì 3 đã là Tiến sĩ, trở thành thầy của những thế hệ sinh viên sau này. Tiến sĩ Hà Ngọc Hòa bộ môn Văn học Việt Nam cận đại (Khoa Ngữ văn), Tiến sĩ Trần Văn Thiện – Phó trưởng khoa Báo chí, Tiến sĩ Nguyễn Duy Phương – Phó trưởng khoa Luật (ĐH Huế). Hà Ngọc Hòa lớn tuổi nhất, đi bộ đội biên giới phía Bắc rồi về mới học. Nhớ thời ấy, nhà của Ai-van Hòa ở Tây Lộc – Huế là nơi bù khú lý tưởng của đám sinh viên ký túc xá đói ăn thèm nhậu. Rượu nhà nấu, dưa muối, hành kiệu, cá kho luôn có sẵn, không khí chân tình, mơ gì hơn nữa! Chiều chiều cả lại lũ rủ nhau đạp xe vào thành nội, thế nào cũng có đứa say quắc không về nổi phải ngủ lại. Vợ Hà Ngọc Hòa là giảng viên ngoại ngữ cũng ĐH Huế, con đầu đã vào Quốc học. Nguyễn Duy Phương ngày ấy ấn tượng với bạn bè bởi chiếc mũ bê rê luôn trên đầu và chiếc xe đạp dàn ngang màu xanh. Nhà Phương ở mạn Hương Thủy bên kia đường rày cũng là nơi tụ bạ râm ran một thời của lũ bạn ký túc xá. Tính tình khá trầm lặng, và kiên quyết. Ra trường bỏ văn đi học Luật, lấy bằng PhD. Vợ là bác sĩ Bệnh viện T.Ư Huế, đẻ hai năm hai đứa trai gái đủ đầy, thằng cu đầu nay đã vào lớp 10. Trong khi Trần Văn Thiện đến giờ vẫn là “trai tân”, dù mái tóc chuyển bạc từ khi còn sinh viên. Dạy báo chí truyền thông, không nhớ rõ bao nhiêu lần Thiện dẫn học trò gửi bạn bè ở các báo nhờ hướng dẫn thực tập. Phải nói cho đến giờ, sinh viên báo chí Huế vẫn “phủ sóng” ở hầu hết các cơ quan báo chí, nhất là tại miền Trung.   

 Người K10 thứ tư ở Huế thuộc dạng “bí ẩn”, anh em ít được gặp gỡ nghe tên nhất, đó là Trần Ánh. Sau mấy mươi năm trời, lò dò tìm hiểu, mới hay anh chàng hiện đang là Phó Viện trưởng Viện KSND huyện Phú Vang (TT-Huế). Suốt 10 năm nay vẫn đóng nguyên chức ấy. Vợ là cán bộ ngành Thuế của tỉnh. Nhà ở thành Huế, ngày ngày phải vượt 15-17 cây số về Viện. Hai đứa con thì cu đầu đang lớp 10 chuyên Lý ở Quốc học. Cô bé sau lớp 6, trường chọn Nguyễn Tri Phương.     

 

 

 

 

Gốc Quảng Bình trong lớp có hai người là Nguyễn Văn Cương và Trần Thị Hoa Phượng. Sau mấy năm đi lính đóng ở Vĩnh Phúc, “Bố cháu” (biệt danh phòng ký túc xá B4 đặt cho Cương) về cắp sách vào giảng đường Huế. Dáng đi hình chữ S, chân tay dài loằng ngoằng, cách nói năng khá…điệu, chữ viết thì đẹp và đều tăm tắp như thợ viết giấy khen, “Bố cháu” hồi ấy thuộc diện “oách” nhất lớp. Từ quần áo, đầu tóc, bút, lược cho tới chiếc xe đạp sườn Inox sáng choang toàn phụ tùng ngoại. Chả là xuất thân từ lính, lăn lộn trường đời sớm nên “Bố cháu” biết mua thứ này, bán thứ nọ trong những chuyến nhảy tàu đi về giữa Huế và Đồng Hới. Kiếm tiền tự lo việc ăn học, chứ không ăn bám bố mẹ như bọn cùng lớp. Thế nhưng ra trường, “Bố cháu” lại khá lênh đênh. Mất 10 năm cạo giấy ở Viện KSND Quảng Bình. Thêm 6 năm ở Văn phòng UBND tỉnh Phú Yên, mọi sự vẫn bấp bênh. Khoảng 6 năm trở lại đây “Bố cháu” mới ổn định và hài lòng với công việc mới tại Ban quản lý dự án Thủy điện 7 (Tập đoàn Điện lực VN) đóng tại Bình Định. 36 tuổi mới lấy vợ, giờ hai đứa con, trai đầu lớp 8, gái sau còn…mẫu giáo nhỡ !

Cũng khá lênh đênh là Trần Thị Hoa Phượng – một trong 4 cô gái tính tình dễ thương của lớp K10. Trọn 20 năm gắn bó với Kon Tum - Tây Nguyên, ban đầu làm báo, rồi lần lượt qua Văn phòng Tỉnh ủy, Dân số Kế hoạch hóa, Sở Văn hóa với quả tim không được khỏe, đã từng một lần phải can thiệp dao kéo. Mới cuối năm ngoái, Hoa Phượng xin về lại quê Quảng Bình, công tác tại Sở Y tế.

Lớp K10 ở Đà Nẵng có điểm đặc biệt, đó là hầu hết đều làm báo, dù chưa được đào tạo báo chí một ngày. Với hàng trăm trụ sở đại diện các cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình trung ương và địa phương trên cả nước, Đà Nẵng được coi là địa bàn báo chí phát triển mạnh chỉ sau TP HCM và Hà Nội. Trà Xuân Phương hiện là Trưởng phòng Phim tài liệu của Đài truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng - một nhà báo, đạo diễn truyền hình chững chạc với vô khối Huy chương Vàng, giải thưởng. Hồi ấy, học với K10 xong năm đầu thì Phương được tuyển du học Nga, nghiên cứu văn học Nga, 6-7 năm sau mới về nước. Được mời dạy đại học ở Sài Gòn, nhưng lại thích và theo nghề truyền hình luôn từ ấy. Huỳnh Nam Phong làm Trưởng đại diện miền Trung của báo Thể thao Việt Nam từ rất sớm, là cây bút bình luận thể thao, bóng đá cự phách. Trần Thị Thu Hương – hoa khôi của K10 bước vào nghề báo chậm hơn bạn bè đến cả 6-7 năm, nhưng có những bước tiến dài trong nghề nghiệp, giữ chức Trưởng ban phóng viên của báo Công an Đà Nẵng. Mới đây, Thu Hương được tổ chức phân công làm Đội trưởng Tổng hợp của Sở Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy TP Đà Nẵng (thuộc Bộ Công an) vừa thành lập. Cũng tại báo Công an Đà Nẵng, Dương Thế Sinh hiện đang là Thư ký tòa soạn. Vợ quê Mộ Đức - Quảng Ngãi, cũng là nhà báo cùng cơ quan, đã có 2 đứa con dễ thương lanh lợi.  

Đến giờ không thể nhớ rõ Lê Đức Dục đã “ẵm” bao nhiêu giải báo chí lớn nhỏ. Cái tên Lê Đức Dục giờ đã là một trong những thương hiệu tin cậy của báo Tuổi Trẻ TP HCM. Phóng khoáng, sôi động, giàu nhân văn, và đặc biệt căm ghét “kẻ ngoại bang hàng xóm xấu tính” đến mức phát cuồng với nhiều giai thoại. Dù đóng ở Đông Hà - Quảng Trị, nhưng hầu như lúc nào bước chân chàng cũng ngang dọc đâu đó khắp biên giới, hải đảo, nhà giàn xa ngút ngàn, với những bút ký phóng sự hừng hực chất lửa yêu thương với từng tấc đất quê hương, bờ cõi. Thời sinh viên, Dục làm thơ nhanh và nhiều, dễ đến cả ngàn bài thơ chật kín những cuốn sổ tay tự đóng viết bằng loại mực tím đặc trưng, và nổi nhất trong những đêm thơ, hội thảo, sinh hoạt ngoại khóa. Ra trường, chàng vẫn là hạt nhân sôi nổi kết nối anh em K10 trong những dịp cần sự sẻ chia, hội ngộ. Lê Đức Dục từng ghi “kỷ lục” hát …500 bài liên tục từ tối đến tận 5 giờ sáng trên đỉnh Bà Nà. Số là năm đó, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Trương Quang Được mời anh em văn nghệ sĩ lên Bà Nà sương khói hồi đó còn đang xây dựng ngổn ngang đốt lửa uống rượu đọc thơ. Tưng bừng tới nửa đêm, các chàng các nàng ngấm rượu, ngấm sương dúi dụi gục vào nhau mà …ngủ, riêng Dục ta vẫn phừng phừng đàn hát. Đến lúc mọi người lục tục kéo nhau xuống núi, chàng mới buông rơi cây đàn, đổ gục xuống ngáy như là súng máy …       

Trong lớp, còn một anh chàng khá kín tiếng nữa cũng ở Quảng Trị, là Lê Văn Thanh. Mấy lần hội Khoa, cũng không thấy mặt. Thanh giờ là Thượng tá, Đội trưởng tổng hợp Công an huyện Triệu Phong nơi thành cổ Quảng Trị. Vợ là cô giáo trường tiểu học Lê Quý Đôn gần đơn vị, có 2 thằng cu, đứa lớp 5, đứa lớp 1.

 Ở xa nhất của K10 hiện giờ là Đỗ Thị Kim Anh. Ra trường là về Đà Nẵng, gắn luôn với Nhà xuất bản Giáo dục, cơ quan cũ của bố. Mấy năm trước, Kim Anh chuyển vào sống ở TP Hồ Chí Minh, cũng vẫn cơ quan cũ đại diện phía Nam. Còn một sinh viên “đặc biệt” của K10 nữa có lẽ giờ này cũng đang ổn định ở Sài Gòn, đó là Nguyễn Minh Tuấn. Tuấn là con của PGS.TS Nguyễn Đức Cán – Chủ nhiệm đầu tiên của Khoa Cơ khí (ĐH Bách khoa Đà Nẵng), sau chuyển vào TP HCM. Tuấn học dự bị lên, khá điển trai, ăn mặc lịch sự, nói năng nhẹ nhõm, nhưng phong thái sinh hoạt khá “dị biệt” ở ký túc xá.

Nhớ lại, lớp K10 lúc đầu có anh Toản, quê Quảng Trị, dáng vâm váp, râu quai nón. Trước khi cầm súng sang chiến trường Campuchia, anh đã thi đậu vào Khoa Văn của trường. Sau khi rời chiến trường, được bảo lưu kết quả vào học K10. Nhưng có lẽ ký ức khốc liệt chiến tranh cùng khó khăn của đời sống, nên khoảng hết năm thứ nhất, anh nghỉ học khoác ba lô về quê. Một trường hợp nữa là Thái Tăng Bang. Thời ấy, vì lý do nào đó, Bang theo học dự thính với K10 một thời gian, sau vào K11. Thái Tăng Bang giờ là giảng viên Luật của ĐH Huế cùng với Nguyễn Duy Phương…

          Còn mấy dòng cuối, xin vài dòng tự giới thiệu về người chắp bút bài này. Trần Ngọc Tuấn, lấy bút danh ngắn gọn Trần Tuấn (cho đỡ tốn giấy báo). Hiện là đại diện báo Tiền Phong tại miền Trung đóng đô Đà Nẵng. Ngoài viết báo, thì còn mắc hai tính xấu, đó là vẫn …làm thơ (dù ngày càng thấy không “hiểu” chính thơ mình), và đẻ nhiều (3 đứa, đông con nhất K10). Đặc biệt cũng mắc bệnh “lười như K10”. Đây có lẽ là bài viết gửi về Khoa muộn nhất trong số các lớp cựu sinh viên tham gia vào tập sách mừng ngày Hội 55 năm Khoa Văn Huế …

“Một lứa bên trời” K10 ngày ấy, giờ số phận có thể khác nhau. Nhưng nhìn

chung lại, thấy thật mừng. Tuy không thật cao vời về chức sắc địa vị, nhưng đều là những người biết sống thương yêu, sẻ chia và tận hiến với đời …/.

 


 Khoa Ngữ văn  10-03-2012  In
Ý kiến phản hồi
Chưa có ý kiến nào.
Gửi ý kiến phản hồi
Vui lòng Đăng nhập để gửi ý kiến phản hồi.



Copyright © 2010
Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 
--- a d v e r t i s e m e n t ---