Khoa Ngữ văn

3821133
 
LỚP VĂN K17 CỦA TÔI

                                                                             Bùi Ngọc Long

 

Thời còn ngồi dưới gốc cây bàng ở kí túc xá 27 Nguyễn Huệ (nay là 77 Nguyễn Huệ - khuôn viên trường Đại học Tổng hợp, nay là Đại học Khoa học Huế), lũ chúng tôi vẫn thường ngâm ngợi: “Thời gian sao mà xuẩn ngốc/ Mới thôi mà đã đời người” (Dù năm dù tháng- thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường). Ngâm ngợi cho ra vẻ triết gia vậy thôi chứ lúc đó, lũ chúng tôi chẳng ai biết sợ thời gian là gì khi những mái đầu còn xanh mươn mướt.

Quay đi quẩn lại, bấm đốt ngón tay, mới đó thôi mà đã ra trường được hơn 14 năm! Và mỗi lần có dịp ngồi lại với nhau ai nấy cũng chợt giật mình khi không ít mái đầu đã bắt đầu lớm chớm sợi bạc.

Lớp văn K17 ngày tựu trường có quân số là 39 sinh viên, quy tụ đủ màu sắc, hương vị từ các cô nàng xứ Huế kiêu kỳ: Hoàng Lan Anh, Lê Minh Hiền, Bạch Yến…đến cháy khét mùi gió lào của Phan Tân Lâm, Xuân, Liên…rồi Thu Hương, Vi Lan...căng đầy nhựa sống Quảng Bình, các chàng nàng hay cãi cọ lý sự của xứ Quảng: Trương Đức Tới, Huỳnh Quốc Hải, Phan Thanh Hải, Ngô Xuân Lộc, Hứa Văn Đông, Huỳnh Đức Lâm, Phan Thanh Me, Đặng Văn Năm, Tố Lâm, Như Thủy, Minh Tài, Kim Yến, Thu Trang… những chàng Huế trọ trẹ Đặng Văn Nam, Lê Đức Khôi, Như Tĩnh, có nhà thơ xứ Sịa Đặng Thông Thành…có cả hai “linh mục dự bị”  Lý Thanh Phong,  Võ Văn Phú, hai “thầy chùa” Trần Lý Khánh và Bùi Ngọc Long…Mỗi người mỗi vẻ, nhưng tất cả đều có một điểm chung là nghèo và rất nghèo. Mà lẽ thường, kẻ nghèo vẫn thường hay thương nhau!

Lớp Văn K17 cũng được xem như là lớp học “giao mùa” của một cuộc “đổi mới như cũ” của Văn khoa Huế vì khi đăng ký dự thi thì vẫn còn là Đại học Tổng hợp, nhưng học xong chương trình đại cương bỗng đổi thành Đại học Khoa học Huế (trở về tên cũ của trường trước năm 1975). Nói thật, rất nhiều người trong chúng tôi vẫn thích Đại học Tổng hợp hơn, vì dù ra thời điểm đời được tính từ sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất (năm 1976), nhưng với thương hiệu Đại học Tổng hợp Huế, trường đã nhanh chóng đào tạo ra nhiều thế hệ người tài đáng tự hào. Đặc biệt, đối với văn khoa của Đại học Tổng hợp Huế thì lại càng tự hào hơn vì một không khí văn khoa rất đặc biệt, gắn với tình nghĩa đồng môn rất thắm thiết và ít phân biệt thượng hạ, có chăng chỉ là đưa nào có tài hay không mà thôi. Đứa có tài thì được “ưu ái” đối đãi bằng văn chương, còn đứa ít phát tiết thì cũng được đón nhận bằng tình nghĩa anh em chí tình. Bởi thế mà dù học khóa 17, nhưng chúng tôi vẫn có thể ngồi chung chiếu rượu để đọc thơ, “khoát lác” văn chương với các bậc đàn anh của các khóa trước như Văn Công Hùng, Phạm Xuân Hùng, Nguyễn Xuân Hoàng, Trần Tuấn…

Bốn năm học cũng trôi qua nhanh, nửa đường có một số bạn chuyển hướng. Trong đó Lý Thanh Phong và Võ Văn Phú vào Đại chủng viện Kim Long để theo lý tưởng trở thành hai linh mục của mình. Bây giờ cả hai đều đang quản giáo hai giáo xứ lớn ở Huế và Quảng Trị. Có người ra đi, nhưng cũng có người tìm đến, lớp lại được bổ sung quân số từ Lê Huy Kha, Nguyễn Minh Sơn (K16), Bạch Văn Quang (K14). Những nhân vật từ khóa trên do can tội “giang hồ” mà trụt xuống K17.

Số còn lại dù tốt nghiệp văn khoa nhưng ra trường lại làm đủ thứ công việc từ sĩ quan công an nhân dân Huỳnh Đức Lâm (Phòng Công tác chính trị Công an TP.Đà Nẵng), cán bộ văn hóa Thanh Vân (Sở VH-TT-DL Quảng Nam), Như Thủy (cán bộ UBMTTQVN tỉnh Quảng Nam), Như Tĩnh (cán bộ Thư viện Tổng hợp tỉnh Thừa Thiên- Huế), Lê Đức Khôi (cán bộ Trung tâm Bồi dưỡng chính trị Thành ủy Huế), Lê Minh Hiền (giảng viên Khoa báo chí ĐHKH Huế), Diễm Hồng (giáo viên trường THPT Hương Thủy), Hoàng Lan Anh (cán bộ UBMTTQVN tỉnh Thừa Thiên- Huế), Lê Hiền Nhi (cán bộ dân số phường), Tuyết Nhung (cán bộ Sở Tư pháp Đà Nẵng)…

Số đông còn lại, đa phần theo nghiệp báo và giờ đều trở thành những cây bút kỳ cựu, có tên tuổi của làng báo chí miền Trung, như: Thu Hương (Báo Bảo hiểm VN); nhà báo nữ xông xáo Vi Lan (Đài PTTH Quảng Bình), phóng viên truyền hình giỏi lên rừng xuống biển Phan Tân Lâm (Đài PTTH Quảng Trị), các nhà báo chửng chạc Đặng Thành, Bạch Quang (báo Thừa Thiên- Huế), các cây bút xông xáo, cương trực như: Đặng Văn Nam (tức Đăng Nam báo Tuổi Trẻ), Phan Thanh Hải, Trương Đức Tới (tức Trương Tâm Thư báo Lao Động), phóng viên truyền hình “nổi tiếng” chống lâm tặc Lê Huy Kha (Trung tâm truyền hình VN tại Đà Nẵng), các nhà báo truyền hình năng động Ngô Xuân Lộc, Đặng Văn Năm (Đài Phát thanh truyền hình Quảng Nam); nhà báo chỉnh chu, cẩn trọng Hứa Văn Đông (báo Quan Nam), rồi nhà báo thường trú cùng miền di sản Hội An Huỳnh Quốc Hải (Đài Truyền thanh TP.Hội An)…

Đặng Văn Nam vốn là lớp trưởng, người đã để lại nhiều giai thoại. Đáng nhớ nhất là trong một đêm thơ do liên chi đoàn Khoa Văn tổ chức, Nam đã máu lửa lên đọc một bài thơ. Đọc được 4 câu thơ của khổ thứ nhất, anh cất vào túi và thò tay vào túi thứ hai…Nhưng loay hoay mãi trên sân khấu anh vẫn không tài nào tìm được khổ tiếp theo. Thế là ngượng ngùng xin lỗi và bước xuống sân khấu. Sau khi tĩnh tâm, anh mới biết khổ thơ còn lại bỏ vào túi quần, nhưng cái quần đã mang đi giặt từ lúc chiều. Xưa nay người làm thơ thì nhiều, nhưng làm thơ mà mỗi túi bỏ mỗi khổ thì e chỉ có mình anh ta. Thế là sự nghiệp thơ phú của Nam dường như cũng đứt gánh từ đó. Một người khác thời đi học có 4 câu thơ “nổi tiếng” lan truyền trong KTX mà hầu như ai cũng thuộc: “Hôm nay là thứ mấy rồi/ Anh ngủ không được vẫn ngồi làm thơ/ Em đừng trách móc vu vơ/ Vì sao anh phải ngẫn ngơ thế này”, sau khi ra trường đã ngược lên Tây Nguyên và cũng trở thành phóng viên cứng như Phan Thanh Me (Đài PTTH Đăk Nông); Lớp còn có Lê Thành Lân, tuy học văn nhưng lại rất giỏi bóng chuyền. Lân có một chuyện tình đẹp thời sinh viên khiên ai trong lớp cũng ngưỡng mộ. Sau khi ra trường, Lân về làm cán bộ Cục thuế Quảng Nam, một thời gian sau lại chuyển về làm PV kinh tế của báo Đà Nẵng.

Lớp còn có gương mặt lớn tuổi được tín nhiệm cử làm Bí thư chi đoàn, người vốn có câu nói đầy hào sảng văn khoa “Bình sinh chỉ thích rượu và gái đẹp” Nguyễn Thanh Thắng. Anh Thắng sau khi ra trường cũng bươn chải lên Tây Nguyên và trở thành phóng viên cứng của của Đài PTTH Kon Tum. Anh Thắng mồ côi cha mẹ từ nhỏ, gia đình chỉ có mấy anh chị em côi cút nuôi nhau và tất cả đều rất nghèo. Để vào được đại học, anh phải bôn ba kiếm sống nhiều năm ở Tây Nguyên. Tốt nghiệp văn khoa, anh không chỉ là niềm tự hào mà còn là chỗ dựa tinh thần của cả gia đình. Thế nhưng, cuộc đời vô thường đã không để yên cho anh được sống với bạn bè và gia đình thêm chút nữa. Năm 2009, anh không may gặp phải căn bệnh hiểm nghèo và đã qua đời trong niềm thương tiếc của bạn bè và gia đình. Duyên phận đưa đẩy thế nào mà nơi yên nghỉ của anh ở Thủy Phương chỉ cách ngôi mộ của Nguyễn Thị Bạch Yến (cũng đã qua đời trước đó vì một căn bệnh hiểm nghèo) chỉ cách một quãng đồi. Ngày đưa tang anh Thắng, xóm làng Thủy Phương dẫm nước mắt. Sau khi bỏ nắm đất cho anh, thầy trò văn khoa chúng tôi đã sang mộ Bạch Yến thắp nén nhang và ngậm ngùi xót thương cho hai gương mặt trẻ mệnh bạc. Cỏ lau trên đồi bàng bạc nỗi phân ly.

Lại kể thêm chút nữa về số phận của hai tăng sinh trong lớp, trong đó đến năm thứ tư thì tôi (tức chú tiểu sa di Bùi Ngọc Long) đã cởi bỏ áo cà sa về với trần tục. Dù vốn sống trải nghiệm ở đời chưa được là bao nhưng cũng đua đòi “mới ra chùa tập leo núi”. Kết quả là cũng kiếm được một nàng xinh đẹp để yêu và bây giờ đã có được đứa con trai ngoan. Sau bao năm long đong lận đận đi qua nhiều báo, cuối cùng tôi cũng đã trụ lại được ở một tờ báo mà mình yêu thích là báo Thanh Niên (thường trú ở Thừa Thiên- Huế). Vị tăng sinh còn lại là Trần Lý Khánh vẫn kiên trì với con đường mây trắng, giờ đã trở thành đại đức Thích Trí Năng (Ủy viên ban văn hóa Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên- Huế, đại diện cho báo Giác Ngộ ở Huế)…

Vẫn còn nhiều gương mặt khác nữa như Văn Viết Quỳnh Phi về làm dâu xứ sở Khánh Hòa, Nguyễn Thu Trang, Ngô Thị Vĩnh Linh (làm ngành văn hóa ở Quảng Ngãi)…mà trong khuôn khổ của bài viết này, tôi không tài nào kể hết.

Dù mỗi người mỗi công việc, nhưng bất cứ làm gì, ở đâu thì thương hiệu Văn K17 vẫn là một niềm tự hào vì sự gắn bó đoàn kết và rất mực yêu thương nhau. Nhân kỷ niệm 35 năm thành lập khoa (1976-2011) và 55 thành lập Trường ĐHKH Huế (1957-2012), xin góp nhặt một vài kỷ niệm của Văn K17 để góp thêm hương sắc cho ngôi nhà Văn khoa Tổng hợp Huế. Trong khuôn khổ của bài viết,  không tránh khỏi thiếu sót, mong các bạn lượng tình bỏ qua./.

 


 Khoa Ngữ văn  29-01-2012  In
Ý kiến phản hồi
Chưa có ý kiến nào.
Gửi ý kiến phản hồi
Vui lòng Đăng nhập để gửi ý kiến phản hồi.



Copyright © 2010
Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 
--- a d v e r t i s e m e n t ---