Khoa Ngữ văn

3821133
 
TỪ CÁNH CỬA TRƯỜNG, CHÚNG TÔI RA ĐI VÀ TRƯỞNG THÀNH

                                                                           Phạm Ngọc Sinh

                                                                                 Văn K12

 

          Lần đầu tiên trong đời, tôi và nhiều bạn như tôi, từ những làng quê nghèo vùng cát nóng bỏng của Quảng Nam tới Cố đô Huế- thành phố thơ mộng, mang trong mình niềm vinh dự được đặt chân lên mảnh đất hiếu học. Còn nhớ, hôm lên đường đi thi đại học, sau một đêm đứng “chân vịt” (một chân đứng, một chân phải co lên) trên đoàn tàu chợ “người như nem” xuất phát từ Đà Nẵng, chúng tôi tới Huế vào ngày hôm sau. Đập vào mắt lũ chúng tôi là Sông Hương xanh ngút ngàn và đường Lê Lợi rợp bóng mát. Trong màu xanh ngút ngàn và êm ả đó, vẫn rực cháy lên màu phượng đỏ. Bây giờ, bạn bè còn nhắc lại cái màu đỏ ấy.

          Đêm đầu tiên, lũ chúng tôi ngồi chơi dưới bóng điện cầu Phú Xuân, cầu Tràng Tiền. Các cô gái Huế nhìn lũ thí sinh mùa thi quê mùa cục mịch, tóc cháy nắng, da sần mưa gió, thi thoảng lại nép cười sau vành nón. Còn các sĩ tử “đáo kinh thành” thì đắm đuối đốt cháy làn tóc tím. Bỗng thấy mình xấu hổ, nhưng vẫn ngạo nghễ: “Học trò trong Quảng ra thi/ Mấy cô gái Huế bỏ đi không đành”.

          Thế rồi, tôi có mặt tại lớp Văn K12- Đại học Tổng hợp Huế. Không biết, Khoa Văn mình có lớp nào có số sinh viên ít và nhiều số phận như Văn K12 không. Đó lớp học cuối cùng của hệ đại học dự bị để bước sang học cơ bản và học chuyên sâu. Đó là lớp học cuối cùng về việc tuyển sinh viên du học ở Liên Xô (cũ). Sinh viên Văn K12 có người sinh ra từ núi rừng Quảng Bình, vùng quê gió Lào - Quảng Trị, Cố đô Huế, Thành phố Đà Nẵng, đất cát Quảng Nam đến phù sa Quảng Ngãi,…theo dọc duyên hải miền Trung. Cũng thật thú vị, đây là vùng quê của những con sông nổi tiếng, đi vào thơ ca, nỗi nhớ: Sông Gianh, sông Kiến Giang, sông Thạch Hãn, sông Hương, sông Hàn, sông Thu Bồn, sông Trường Giang, sông Trà. Vóc dáng ngày ấy:

          “Bàn chân thô nứt  nẻ ruộng trưa hè

          Giọng Quảng Trị giòn khô như nắng lửa

          Mày bảo Quảng Nam giọng nói khó nghe”

                             (Viếng bạn, tưởng nhớ Dương Đình Mẫn - Phạm Ngọc Sinh)

          Thời sinh viên chúng tôi, đói và rét. Có cảm giác, chỉ có bộ áo quần và tấm thân gầy, ngoài ra cái gì cũng thiếu. Một điếu thuốc, ly rượu nếp cũng sưởi ấm cho cả lũ con trai. Một củ khoai lang quê nhà cũng ấm lòng lũ con gái. Rồi lại xúm nhau ăn, để dành một phần “tem phiếu” lo việc chung. Bọn con trai đau, lũ con gái lo từng bữa cháo nóng. Lũ con gái bị cảm lạnh, bọn con trai xoa dầu, cạo gió tím cả lưng, hôm sau nhìn nhau cười…mắc cở. Cuối tháng chụm nhau vào cắt tóc. Ly cà phê cuối tuần lớp uống chung (thơ Phạm Ngọc Sinh). Đêm rét quấn chung chăn (mà sao cái rét xứ Huế dai dẵng, mưa thì dầm dề đến thế). Hồi đấy, đứa nào về quê, cả lớp trông chờ như con chờ mẹ đi chợ mua quà, mà nào có gì đâu cam: mớ khoai chà Phú Lộc, bát đường đen Quảng Ngãi, lon đậu rang muối Quảng Nam, cái bánh tráng, trái bầu, trái bí,…Nghèo đến nỗi, đến khi ra trường, nhiều đứa hẹn nợ chủ quán đến vài ba năm sau có dịp quay về thăm trường mới trả, lấy lại Thẻ sinh viên làm kỷ niệm. Bà mập bán cà phê, chị Duyên cơm bụi cổng nhà thờ Dòng Chúa cứu thế, cô Hồng rượu nếp,…trở thành những người thân thuộc, cưu mang. Ấy thế mà cứ huyênh hoang: Chữ ký đẹp bởi nhiều lần ký nợ. Chủ quán cười xòa. Hồi đó, tôi nhận được nhiều học bổng (nhà trường, Hội Sinh viên Việt Nam, Báo Tuổi trẻ). Thầy Phan Đăng- Trưởng Khoa nói vui: “Học bổng của em bằng lương giáo viên mới ra trường đang dạy tại Khoa”. Mỗi lần lớp phó nhận học bổng, tôi chủ chi một bữa khao, có bữa thèm quá, ăn uống cho say đến quên học. Không hiểu sao thời ấy, uống nhiều đến vậy. Rồi có lần, ăn tô bún giò Huế tại đường Lý Tự Trọng, ngon đến nổi đứng lên thấy tiếc. Tôi vẫn nhớ nguyên cảm giác ấy, cứ mỗi lần đi công tác Huế, lại tìm về quán đó, để ăn và cũng để nhớ một lần như thế. Ai cũng nhớ cái không khí một lũ con trai, con gái tranh nhau đèo, còng lưng trên mấy xe đạp cà tàng lên số 3 Lê Lợi nhận học bổng. Cười hớn hở như phú ông được mùa.

          Khu Ký túc xá sinh viên 27 Nguyễn Huệ gồm 6 dãy nhà cấp 4. Mỗi phòng có 8 ông, ăn như tu, ở như tù, nói như lãnh tụ. Rồi mỗi phòng 8 bà, tám góc riêng tư, có lúc như công chúa cấm cung, có lúc quậy tưng bừng như quỷ. Thấm thoắt đã tròn 20 năm ngày ra trường. Mới ngày nào là lũ sinh viên ngơ ngác, ngỗ ngược, bây giờ đã là những cán bộ đỉnh đạc. Rồi cũng có những bạn sớm từ giã cuộc sống để về miền sương khói, nói như thầy Phạm Phú Phong thì đó là những con người về trước chúng ta. Bây giờ, ngồi nhớ lại và phác họa vài nét chân dung để cùng nhau nhớ một thời:

          Trước hết, xin nhắc đến những bạn bè đã về bên kia thế giới:

          - Nguyễn Xuân Hoàng, quê Quảng Ngãi- một thời hào hoa, một thời lang bạc với đất kinh thành. “Sống nhờ cỏ hoa xứ Huế/Chết hoá thành đất thêm sắc cây xanh” (Hoàng ơi- thơ Phạm Ngọc Sinh). Bây giờ yên nghỉ miền Sông Hương, Núi Ngự. Hồi sinh viên, Hoàng hay ôm đàn ngồi một mình sân bóng và rất lạ, cứ rúc đầu vào mưa.

          - Dương Đình Mẫn, quê Quảng Trị- gã mặt sẹo. “Tau nhớ mặt mày nhiều vết sẹo lắm, Sao lạ rứa hè, chừ biết mần răng”, bây giờ cũng nằm lại miền quê gió Lào cháy bỏng, từ giã “Nghề phóng viên mấy phóng sự cho đời, Mộng văn chương, thế thôi đành gác lại” (Viếng bạn- thơ Phạm Ngọc Sinh). Nhớ một lần, ngày nghỉ học, mới ra đến cổng trường, vừa thấy con rắn lãi, Mẫn liền cầm đuôi, rất chuyên nghiệp như anh Hai Lúa sông nước miền Tây, xoay mấy vòng, chộp cổ, cuốc bộ mang đến nhà nghệ sĩ Thanh (ở tập thể sau nhà hát lớn) cắt khúc luộc chấm muối, uống rượu. Đó là tiệc rắn ngon nhất, đầu tiên trong đời.

          - Tống Phước Châu, quê Thừa Thiên – Huế, cứ mỗi lần về quê cát ven biển Phú Lộc thì ôm túi xách màu đen (cả lớp ai cũng nhớ cái túi xách ấy, tôi nhớ khá chi tiết) toàn đựng bầu, bí, khoai lang để lũ con trai hì hục giấu Ban Quản lý Ký túc xá nấu chấm muối ăn. Hồi đi học đã có vợ con. Khi ra trường mang cái chữ chọi với đời, để rồi “thân cát bụi trở về cát bụi”. Tôi nhớ quê Châu xa lắm, tít tận vùng biển. Ngôi nhà nằm chềnh ềnh giữa bãi cát, nheo nhóc lũ con thơ mặt mày loang lổ như cát.

          Bây giờ, Hoàng, Mẫn, Châu đều nằm lại bắc đèo Hải Vân. Nơi ấy, rét về, có lạnh lắm không. Hàng năm, tập thể lớp đều tổ chức có quà cho con các bạn và nhờ người thân thắp nén hương. Anh em, ai có dịp công tác Huế, Quảng Trị đều đến viếng hương cho Hoàng, Mẫn, Châu. Đến bây giờ, mình vẫn áy náy chưa viết tiễn riêng Châu lời nào.

          Rồi, những sinh viên Văn K12, trên đường mưu sinh lập nghiệp, cũng bôn ba tứ xứ. Thỉnh thoảng gặp nhau, ôm vội vàng, nâng ly chúc mừng, rồi lại cuốn vào công việc, mưu sinh cuộc sống. Âu đó cũng là lẽ thường tình. Quý nhau cốt tấm lòng, đừng để gió cuốn đi. Đàn chim một tổ xưa kia đã bay khắp trời, kể cả phương trời xa xăm:

          - Nguyễn Văn Tư, quê Quảng Trị, anh cả của lớp. Anh về với thời sinh viên mang theo nhánh lan rừng của người lính. Bây giờ là Phó Chánh văn phòng, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Thừa Thiên- Huế. Hồi học, anh vẫn coi anh em tôi như những đứa em. Bây giờ, anh vẫn lãnh trách nhiệm đại diện lớp lo toan mọi việc liên quan đến gia đình cựu sinh viên Văn K12 tại Huế, Quảng Trị và Quảng Bình.

          - Phạm Ngọc Sinh, Quê Quảng Nam, Lớp trưởng Văn K12, Chủ tịch Hội Sinh viên Đại học Tổng hợp Huế (nay là Đại học Khoa học), xuất thân là cán bộ Hợp tác xã Nông nghiệp chân lấm, tay bùn. Sau bao năm tháng thăng trầm, xuôi ngược, năm 1997 chia tỉnh, về quê. Bây giờ là Phó Giám đốc Sở Khoa học & Công nghệ kiêm Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các hội KHKT tỉnh- Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Quảng Nam.

          - Bùi Văn Thanh, quê Thừa Thiên- Huế, sau khi ra trường về quê tu nghiệp mãi nghề nội chính, bây giờ là Chánh Văn phòng Tòa án tỉnh Thừa Thiên- Huế. Hồi đấy, Thanh thuộc loại chậm nghe hay quen biểu lộ “hử” khi người ta nói- nghĩa là ai nói gì, Thanh cũng “hử” có vẻ như hỏi lại. Có một dạo, Thanh điện cho mình hỏi nhớ ai không? Nói trúng phoóc, cười đã.

          - Lê Văn Liêm, quê Quảng Nam, theo cha mẹ sinh sống tại Đà Nẵng từ nhỏ. Sau thời gian giảng dạy, bây giờ, đang là Giám đốc Thư viện Học viện Chính trị- Hành chính Đà Nẵng. Anh em nhớ Liêm liên quan đến sự kiện tiệc “chuột” ở Ký túc xá. Đó là một đêm mưa dầm dề, cả lũ con trai đang ngồi co ro tán ngẫu, con chuột trên sàn  rơi xuống giữa phòng. Đang ngồi giường tầng trên, Liêm nhảy vọt xuống, và, bữa thịt chuột đầu tiên trong đời diễn ra ngon lành.

          - Nguyễn Kim Hải, quê Quảng Nam, bây giờ là Thư ký Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, Học viện Chính trị- Hành chính Đà Nẵng. “Hải khịt” là biệt danh, liên quan đến cái bệnh hay khịt khịt của Hải. Xuân Hoàng thường chơi với Hải. Bẳng đi thời gian, có lần gặp Hải tại quán bê thui Cầu Mống cùng với anh là Nguyễn Kim Huy và một cô gái rất lạ. Hỏi ra, mới hay Hải về quê cưới vợ. Tôi và Hải có câu chuyện phiếm liên quan đến đất Núi Thành và Điện Bàn đánh Mỹ, cứ gặp nhau là bảo “Đánh giỏi hỉ”.

          - Nguyễn Trọng Hiến, quê Quảng Bình, sau khi ra trường, khăn gói lên vùng Tây Nguyên và biệt tăm. Mới đây, khi tìm hiểu viết bài này, mới biết đã là Trung tá, Phó Phòng công tác bảo vệ Chính trị- Công an ĐăkLăk. Trong lớp, Hiến thuộc lớp trẻ, cũng ngang tàng lắm. Cứ mỗi lần lên bục giảng, bí cái gì thì vuốt tóc cháy đến mượt, nhìn cửa sổ. Nhớ Hiến với nồi rau muống “mượn tạm” tại cánh đồng gần trường.

          - Nguyễn Khánh Hiền, quê Quảng Ngãi- Phó phòng Hành chính- Trung tâm truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng. Trong lớp, Khánh Hiền là thư sinh nhất, trẳng trẻo, khá cẩn thận và đĩnh đạc; chỗ nghỉ khá ngăn nắp. Có lần, bạn cùng phòng cũng nghịch chốn riêng tư ấy, Hiền bực tức, mặt đỏ như con gái. Bước sang năm hai gì đó, Hiền lại say mê học võ. Nhớ hôm gặp nhà báo tại Quảng Nam, vẫn còn thư sinh lắm. Lâu rồi không gặp, không biết thế nào.

          - Nguyễn Thanh Hải, quê Quảng Bình, nhỏ tuổi nhất lớp, nhưng gương mặt thì rất góc cạnh. Những suy nghĩ của Hải cũng khá lạ và hay. Rất ít nói. Khi viết mấy dòng này, nghe anh em nói, Nguyễn Thanh Hải đã thành Văn Cầm Hải, đang định cư đâu bên Âu, bên Mỹ. Chắc bây giờ gặp lại, tôi khó nhận ra lắm.

          - Đoàn Quỳnh Anh, quê Quảng Bình, sau bao năm hết làm Thư ký Tòa, nay đang nghề báo tại Ban Chính trị và bạn đọc- Báo Thừa Thiên- Huế. Thời sinh viên cũng mơ mộng và lãng du lắm. Thích phiêu lưu. Hôm điện hỏi Quỳnh nhớ gì về Lớp không, vẫn giọng nói thế: “Nhớ hết”. Có gì mới không, vẫn vô tư “Y như rứa”.

          - Trần Thị Bích Thu, quê Quảng Nam, khi ra trường cùng người yêu kéo nhau lên Tây Nguyên, đến khi tách tỉnh thì về làm công tác Phụ nữ. Cũng hay là  chồng làm công tác Nông dân. Lọt tầm ngắm, luân chuyển làm đến Phó Chủ tịch UBND huyện Duy Xuyên, bây giờ là bà nghị, Phó Ban Văn hóa-Xã hội, HĐND tỉnh Quảng Nam. Mới ngày nào trúng gió cạo tím cả lưng, nói lắp ba lắp bắp, bây giờ trước nghị trường vững lắm.

          - Trương Thị Thu Hiền, quê Quảng Bình, theo bố mẹ sinh sống tại Huế, đến khi chia tỉnh (1989) thì ra Đồng Hới. Hồi sinh viên, gầy như que tăm. Sau một thời làm việc tại “vô thanh tàng hình” tỉnh, nghe Quỳnh bảo đã sang Hội Văn học Nghệ thuật, ôm mộng văn chương chắc.

          -  Đỗ Thị Ngọc Diệp, nhà ở Đà Nẵng, bây giờ đã là Thiếu tá, Báo Quân Khu V. Đấy, công việc mà nên người. Điện hỏi thông tin để viết bài, chứ liến thoắng: “Dạ, alo, ai thế ạ. Ai thế ạ” như hồi nào. Vẫn nhớ bài thơ Diệp viết Em sợ chiều nay biển đông người. Hồi sinh viên hay nhõng nhẹo lắm, được mọi người yêu mến cho biệt danh “Tồ”.

          - Nguyễn Thị Phượng, nhà ở Đà Nẵng, sau khi ra trường, về làm Báo Công an Đà Nẵng, bây giờ là Thượng úy, Phó đội trưởng tham mưu tổng hợp, Công an Quận Sơn Trà- Đà Nẵng. Nghĩa là gia nhập lực lượng Công an có chậm so với các bạn cùng lớp vào ngành Công an. “Bé gái nhất lớp” ngày nào bây giờ là đầu mối quan trọng liên kết thông tin các thành viên của Lớp. Phượng cung cấp cho tôi nhiều thông tin nhất về lớp Văn K12, gần như trung tâm thông tin ấy.

          - Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, nhà ở Đà Nẵng, bây giờ là Đại úy, Ban Tuyên huấn- Thành đội Đà Nẵng. Hình như, sau khi ra trường, cô sinh viên nũng nịu ngày nào gia nhập ngay vào Quân đội. Hôm tìm thông tin viết bài này, nhờ Phượng cho điện thoại, tôi điện cho Hạnh, vẫn giọng nói ngày nào không quên được. Tiếc là Hạnh đang họp. Mà Quân đội là nghiêm lắm chứ không phải mấy ông hành chính nghêu ngao.

          - Mai Cẩm Anh, cô gái Huế, gần hồ Tịnh Tâm, sau bao năm lặn lội đất đỏ Tây Nguyên với nắng, với gió, bây giờ công tác tại Văn phòng, Viễn Thông Đà Nẵng. Chắc là phải lòng mấy chàng sĩ tử trong Quảng rồi. Phượng cho điện thoại, mình điện mà không nhận ra giọng. Hỏi nhớ ai lớp Văn K12 không, liền nói một mạch như không: “Nhớ thầy cô, nhớ bạn bè, nhớ mái trường xưa” rất thư sinh.

          Văn K12 còn có Võ Đức Quang, quê Quảng Nam, học hết chương trình cơ bản thì “Nửa đường đứt gánh văn chương” về quê chuyển sang học võ, bây giờ là võ sư, công tác tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam. Cũng lạ là đào tạo nhiều vận động viên tranh vàng, bạc, đồng đủ cả. Năm cuối cùng của lớp có thêm thành viên mới là Trần Thị Kiều Oanh, bây giờ là giáo viên Trường THPT Phan Châu Trinh tại Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Lại kéo nhau lên để ngắm cảnh trời Tây Nguyên xanh chắc.

          Dù ai trong chúng tôi đi bất cứ đâu, bám theo nghiệp văn chương, báo chí hay chuyển sang làm công an, bộ đội, nhà giáo, võ sư, công tác Đảng, Nhà nước,…đều ra đi và trưởng thành từ Văn K12 - nơi đã từng sống, yêu thương và đùm bọc. Bây giờ, đã qua cái thời “Mày về quê, tau phiêu bạt khắp nơi/Chạy mướt mồ hôi, chẳng tìm ra việc”(thơ Phạm Ngọc Sinh). Trong ký ức và tình cảm chúng tôi không quên những cái nhìn thân thương của thầy, cô giáo; không quên cái trứng vịt lộn nhà thầy Đăng, xị rượu gạo nhà thầy Xớn, lát dưa hấu nhà thầy Phong, chén nước mắm thơm giòn nhà thầy Hỷ, bữa cơm đạm bạc nhà thầy Thành,... Hồi đấy, rất nhiều thầy, cô cũng ở nhà tập thể như sinh viên.

          Chúng tôi lớn lên từ những làng quê nghèo, gắn bó nhau trong nghiệp văn chương ban đầu, sưởi ấm từ những tình cảm thầy trò-cha con- anh em ruột thịt để rồi chúng tôi có ngày hôm nay. Văn K12 hay nói rộng ra Khoa văn- Đại học Tổng hợp Huế là nơi bắt đầu. Nơi ấy, chúng tôi đã học, ra đi và trưởng thành./.

 

Quảng Nam, những ngày cuối năm 2012

                      P.N.S.


 Khoa Ngữ văn  25-01-2012  In
Ý kiến phản hồi
Chưa có ý kiến nào.
Gửi ý kiến phản hồi
Vui lòng Đăng nhập để gửi ý kiến phản hồi.



Copyright © 2010
Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Địa chỉ: 77 Nguyễn Huệ, Huế, Việt Nam.
Site được xây dựng trên nền hệ thống PHP-Fusion. Thiết kế và chỉnh sửa bởi nlhhuan.


 
--- a d v e r t i s e m e n t ---