Thông báo mới nhất
Các tin mới nhất
Gương mặt tiêu biểu
Tản mạn
Thông tin tuyển dụng
Chưa có bài viết nào
Đăng nhập
Trích Hồi ký MẤY CHẶNG ĐƯỜNG của Thầy Nguyễn Quốc Lộc, nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Huế (giai

1- Tiếp quản Viện Đại học Huế  

Ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, năm ngày sau (ngày 5-5-1975), tôi được Trung ương ra quyết định điều về Tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế đi nhận công tác mới. Quyết định được thực hiện rất khẩn trương, ghi rõ: “ngày 6-5-1975 phải có mặt tại Trường Tổng Công đoàn (Đống Đa)”. Tôi lại xa gia đình, tạm biệt những người thân yêu sau hơn nửa năm về nước. Công việc chuẩn bị cho một đoàn cán bộ đi B trước đây phải cả tháng, nay chỉ có vài buổi vì tình hình ở miền Nam diễn biến và phát triển rất nhanh. Chúng tôi được nhận đầy đủ mọi trang bị như một chiến sĩ Quân giải phóng đi chiến trường B, gồm: quân phục, mũ tai bèo, bi đông, võng dù, lương khô, thuốc men. Có cả súng đạn để tự bảo vệ dọc đường đi. Trong hàng chục chiếc xe của binh trạm chở hàng trăm cán bộ đi vào miền Nam có một chiếc chở hai đoàn cán bộ vào tiếp quản đại học. Đó là đoàn vào Đà Nẵng với các anh Lý Ngọc Sáng, Trần Ngọc Chương, Phạm Doãn Hân, Nguyễn Thái Cán và đoàn vào Viện Đại học Huế gồm anh Lê Đình Phi và Nguyễn Văn Hạnh từ Trường Đại học Sư phạm, Nguyễn Sĩ Hồng từ Trường Đại học Bách khoa, Hoàng Đức Đạt, Ngô Thị Thuận và tôi - Nguyễn Quốc Lộc từ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Xe chuyển bánh. Một cảnh tượng diễn ra trước mắt tôi thật cảm động: Vợ tôi đang mang bầu đứng nhìn theo lưu luyến, còn đứa con trai năm tuổi của tôi khóc và chạy theo xe đòi giữ ba nó lại. Trên đường đi các anh chị trong đoàn thường nhắc lại hình ảnh này.

Chiều hôm đó chúng tôi đến Huế. Một chiếc trong đoàn xe của binh trạm dừng lại ở đầu cầu Bạch Hổ mấy phút rồi tiếp tục chạy về phía Phú Bài. Chúng tôi trong bộ quân phục giải phóng, đội mũ tai bèo và hành lý chỉ có một chiếc ba lô, xuống xe ngỡ ngàng. Không có ai đón cũng không biết đến đâu trước tiên. Xung quanh vắng lặng. Thấp thoáng sau cánh cửa mấy ngôi nhà gần đấy những đôi mắt dò xét. Lúc ấy vào khoảng 5 giờ chiều. Các anh Hoàng Đức Đạt, Lê Đình Phi, Nguyễn Sĩ Hồng và Phạm Doãn Hân được phân công đi bắt liên lạc với Ủy ban Quân quản. Anh Hân trong danh sách đi Đà Nẵng được Bộ cho phép dừng lại Huế, và sau công tác luôn ở Huế. Anh Nguyễn Văn Hạnh, chị Ngô Thị Thuận và tôi ngồi trông coi đồ đạc. Một chiếc xe jeep ra đón. Theo đề nghị của chúng tôi, anh tài xế cho đi qua mấy đường chính của thành phố Huế trước khi về “Cư xá giáo sư” ở số 2 đường Lê Lợi. Trong đoàn chỉ có tôi là người đầu tiên đến Huế. Các anh chị trong đoàn đều sinh ra ở Huế hoặc gần Huế, đã biết Huế. Những hình ảnh đầu tiên của Huế vừa được giải phóng in đậm vào tâm trí tôi: dòng sông Hương, cửa Ngọ Môn, chợ Đông Ba, cầu Tràng Tiền, đại lộ Lê Lợi xinh đẹp

Ngày hôm sau chúng tôi được đi thăm các cơ sở của Viện Đại học Huế: Tòa Viện trưởng ở số 3 Lê Lợi, đối diện với “Cư xá giáo sư”, Trường Đại học Luật Khoa ở số số 4 Lê Lợi, Thư viện Đại học ở 20 Lê Lợi, Trường Đại học Văn Khoa và Trường Đại học Khoa học ở trong khu Morin, ngay đầu cầu Tràng Tiền, Trường Đại học Sư phạm ở 32 Lê Lợi. Các cơ sở này đều trên con đường Lê Lợi, dọc sông Hương, cách nhau chỉ vài trăm mét. Các cơ sở lúc này đều có những sinh viên là đoàn viên Thanh niên Nhân dân Cách mạng thường xuyên bảo vệ. Trước khi đoàn chúng tôi vào Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Thừa Thiên đã có quyết định thành lập Ban điều hành Viện Đại học Huế (23-4-1975). Trưởng ban là kỹ sư Tôn Thất Hanh, phó ban là anh Lê Phương Thảo nay là Lê Công Cơ, Bí thư Thành đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Huế . Các trường thành viên có các ban phụ trách trường. Và từ ngày 15-4-1975 trong khi Sài Gòn chưa được giải phóng thì ở Huế đã tái khai giảng năm học 1974-1975 với đông đảo sinh viên đến học lại.

Tôi chính thức giữ chức vụ cố vấn Ban phụ trách Trường Đại học Văn khoa Huế ngày 1-6- 1975. Ban phụ trách gồm các cựu giáo viên của trường, với Trưởng ban là TS.Thái Thị Ngọc Dư. Hai phó ban là anh Lê Khắc Cầm (giáo viên Anh văn) và Trần Như Cảnh (giáo viên Pháp văn). Nhân viên của Trường Đại học Văn Khoa trở lại làm việc gần đông đủ. Hằng ngàn sinh viên đến trường dự lễ tái khai giảng năm học từ ngày 15 tháng 4, nay ngày càng đông. Cả khu Morin hai tầng với hằng trăm phòng lớn nhỏ suốt ngày nhộn nhịp. Những lớp đang học. Những lớp đang nghe báo cáo chính trị. Rồi những buổi hội thảo, những buổi sinh hoạt đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng và Hội Liên hiệp Sinh viên giải phóng. Những bài hát cách mạng được lặp đi lặp lại. Báo tường, đặc san lớp nào cũng có. Phòng nào cũng treo ảnh Bác Hồ và khẩu hiệu “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”. Bầu không khí hồ hởi, phấn khởi tràn ngập cả trường, long lanh trên từng đôi mắt. Giáo chức của Trường Đại học Văn Khoa Huế cũng dần dần trở về, đến dự sinh hoạt và trở lại làm việc gần đông đủ. Ban Việt-Hán có các thầy Vương Hữu Lễ, Trần Như Uyên và Tôn Thất Bình. Ban Anh văn và Pháp văn có các thầy Bửu Ý, Đỗ Trinh Huệ, Huỳnh Hữu Hiệp, Phan Hoàng Quý, Trần Văn Phương, Nguyễn Tư Trừng... Ban Sử Địa có TS.Dương Đình Khôi và TS.Nguyễn Đức Tiến.

Một trong những kỷ niệm đáng ghi nhớ ở Viện Đại học Huế sau giải phóng là các lớp học chính trị cho giáo chức và cho sinh viên. Những điều chưa nghe, chưa biết nay được biết. Những điều trước đây hiểu sai, nghĩ sai nay hiểu đúng, nghĩ đúng còn quan trọng hơn. Anh chị em cởi mở giãi bày, sôi nổi trao đổi và thu hoạch sau khi học. Và ai cũng nhận ra cái hành trang mới thật quí đối với mình trên con đường đi tới từ đây. Với tư cách cố vấn, tôi bàn công việc với Ban phụ trách trường, gặp gỡ thường xuyên với các giáo chức, nhân viên và tiếp xúc với các lớp sinh viên trẻ trung, sôi nổi.

Tôi còn nhớ hồi ấy ở Phòng Hội đồng của Trường Đại học Văn khoa tôi đã nhiều lần trả lời câu hỏi lặp đi lặp lại là: - Có còn tồn tại trường Đại học Văn khoa ở Huế không và những giáo chức cũ có được tiếp tục giảng dạy không? Câu trả lời của tôi lúc ấy là: - Nhu cầu về đào tạo cán bộ khoa học xã hội ở miền Trung sẽ lớn và chắc chắn ở Huế phải có trường đại học để lo việc này theo kiểu Đại học Tổng hợp Hà Nội. Chính sách đối với giáo chức đã rõ, nhưng giảng dạy về khoa học xã hội có những khó khăn riêng. Cái đáng lo là anh chị em phải được bồi dưỡng để đủ sức gánh vác công việc. Tháng 7-1975, Ban Cán sự Đảng Viện Đại học Huế thành lập với Bí thư là anh Hoàng Đức Đạt. Tôi là ủy viên Ban Cán sự Đảng và được phân công làm Bí thư Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng Viện Đại học Huế, thường gọi là Viện Đoàn. Những ngày tháng đầu tiên đó tôi thường đến trụ sở Viện Đoàn, trao đổi công tác Đoàn với các bạn trẻ. Nhưng cái chính là để được ngắm nhìn và trò chuyện với những người mà tôi rất quí mến. Đó là những sinh viên kiên cường, dũng cảm đấu tranh chống Mỹ-Ngụy: những người liên lạc thông minh đưa cán bộ và quân giải phóng ra vào nội thành Huế, những người đứng ra hô hào xuống đường bãi khóa, tổ chức đấu tranh đốt cờ Mỹ ở Phòng Thông tin, đốt hình nộm Nguyễn Văn Thiệu ở Tòa Viện trưởng (3-Lê Lợi), những nữ sinh tuổi 18 đã hàng chục lần ném chai xăng vào xe tăng Mỹ, những người thức cả đêm “Hát cho dân tôi nghe”, những người bí mật chuẩn bị và tung ra đường phố cả vạn tờ truyền đơn chống Mỹ ngay trước mũi súng của kẻ thù. Những người đó giờ đây đang ngồi với tôi ở trụ sở Viện Đoàn: Lê Cát Tường, Lê Phước Chấm (sinh viên khoa học), Trần Quang Hải, Trần Văn Tuấn, Lê Văn Hưng (Văn khoa), Lê Văn Phùng (Luật Khoa)...
Trong thời gian này tôi còn được Viện giao một nhiệm vụ nữa là giải quyết chuyển sinh viên của Đại học Luật khoa Huế vào học ở Thành phố Hồ Chí Minh. Có đến mấy trăm sinh viên được nhận hồ sơ đầy đủ, đúng thủ tục chuyển trường. Ngày 24-11-1975, tôi nhận Sự vụ lệnh số 100 ĐHH/TC/SVL cử giữ chức vụ Trưởng ban phụ trách Trường Đại học Văn khoa Huế thay thế TS. Thái Thị Ngọc Dư xin chuyển công tác vào Viện Đại học Sài Gòn. Trường Đại học Văn khoa Huế lúc này có nhiệm vụ phải hoàn tất đào tạo năm thứ 4 cho sinh viên vào tháng 2 năm 1976. Trường không tuyển sinh mới năm học 1975-1976 nhưng có lớp dự bị đại học dành cho diện chính sách. Số sinh viên sau khi nhận được giấy chứng nhận mãn khóa (chưa phải tốt nghiệp) được chuyển sang trường Đại học Sư phạm Huế để đào tạo thành giáo viên, đáp ứng cho yêu cầu của xã hội.

Giữa năm 1976 tôi được cử giữ chức vụ Phó ban Phụ trách trường Đại học Sư phạm Huế do TS. Nguyễn Văn Hạnh làm Trưởng ban. Tôi phụ trách các lớp khoa học xã hội và trực tiếp giảng dạy môn phương pháp Sử học cho sinh viên lớp chuyển tiếp. Cán bộ ở miền Bắc vào lúc này có anh Lê Đình Liễn dạy Lịch sử Việt Nam, cô Vũ Thị Việt dạy Dân tộc học, cô Hoàng Thị Hoàng dạy Văn học thế giới, TS.Lê Văn Hảo phụ trách Thư viện Đại học cũng tham gia giảng dạy. Ngày 12-8-1976, kỳ thi tốt nghiệp đầu tiên của lớp chuyển tiếp tại Trường Đại học Sư phạm Huế được tổ chức trọng thể. Trong số tốt nghiệp có nhiều người từ Đại học Văn khoa Huế chuyển sang học. Đó cũng là thời gian, với tư cách Trưởng ban phụ trách Trường Đại học Văn khoa Huế tôi lo việc chuyển giao giáo chức, nhân viên và cơ sở vật chất sang Trường Đại học Sư phạm Huế. Công việc bàn giao đang được thực hiện: số nhân viên đã sang nhận công tác ở trường Đại học Sư phạm. Số giáo chức đã chuyển sang sinh hoạt, chỉ còn phòng tư liệu và trang thiết bị, đồ gỗ... thì còn ở Morin.

2- Thành lập Trường Đại học Tổng hợp Huế

Giữa năm 1976, khi tôi đang làm nốt những công việc cuối cùng để chuyển cơ sở vật chất của Trường Đại học Văn khoa sang Đại học Sư phạm Huế thì anh Hoàng Đức Đạt nói với tôi: Có khả năng sẽ thành lập một trường Đại học Tổng hợp Huế. Anh chuẩn bị đề án về việc tổ chức các khoa xã hội của trường. Chủ trương chưa chính thức, nhiệm vụ được giao cũng chưa rõ, không có tài liệu hướng dẫn, tham khảo, không có ai để trao đổi bàn bạc... nhưng tôi đã làm xong trong thời gian rất ngắn bản đề án thành lập khoa Ngữ Văn và Khoa Lịch sử. Được biết, đề án về tổ chức các khoa khoa học tự nhiên do anh Hoàng Đức Đạt và anh Nguyễn Sĩ Hồng chuẩn bị.

Ngày 27-10-1976, Thủ tuớng Chính phủ ban hành Quyết định số 426/TTg về một số vấn đề cấp bách trong mạng lưới các trường Đại học. Quyết định ghi rõ: “Trên cơ sở của những khoa của Viện Đại học Huế thành lập Trường Đại học Tổng hợp Huế (sáp nhập Văn khoa và khoa Khoa học) do Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp quản lý”. Ban giám hiệu Trường Đại học Tổng hợp Huế ban đầu chỉ có hai người: anh Hoàng Đức Đạt được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng, tôi làm Phó Hiệu trưởng, được phân công phụ trách tổ chức và công tác chính trị tư tưởng. Về sau Bộ điều động anh Trần Ngọc Chương từ Đà Nẵng ra nhận nhiệm vụ Phó Hiệu trưởng phụ trách cơ sở vật chất. Đây là trường Đại học Tổng hợp thứ ba trong cả nước lúc bấy giờ, sau Hà Nội và cùng với Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường Đại học Tổng hợp Huế có nhiệm vụ đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học phục vụ các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Lúc thành lập trong trường đã có hơn 500 sinh viên thuộc các ngành Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Thủy lợi, Xây dựng ở ba khóa chuyển tiếp do Đại học Khoa học Huế để lại. Trường có nhiệm vụ tiếp tục đào tạo và đã chiêu sinh lớp dự bị đại học. Bộ máy tổ chức của nhà trường thời gian đầu được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ra quyết định cho thành lập 3 khoa ghép và 7 phòng, ban, trạm chức năng. Anh Hoàng Đức Đạt kiêm giữ chức Chủ nhiệm Khoa Hóa-Sinh-Địa. Tôi kiêm Chủ nhiệm Khoa Văn-Sử. Khoa Toán-Lý do anh Nguyễn Sĩ Hồng làm Chủ nhiệm khoa. Với trọng trách là Bí thư Đảng ủy, một Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác tổ chức, cán bộ và chính trị tư tưởng của nhà trường vừa phải trực tiếp lo cho các ngành khoa học xã hội, tôi thấy nhiệm vụ thật nặng nề mà kinh nghiệm công tác quản lý, lãnh đạo chưa được tích lũy. Phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, khiêm tốn học hỏi và hết sức tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên, xây dựng khối đoàn kết nhất trí của tập thể, cùng nhau xây dựng nhà trường.

Là một trường đại học đa ngành, một trường khoa học cơ bản, mới được thành lập, ở vùng mới giải phóng... nên có những đặc điểm, nhiều khó khăn trong buổi đầu xây dựng. Đặc biệt là công tác chính trị tư tưởng và nhiệm vụ tổ chức - cán bộ. Trong số gần 200 cán bộ nhân viên ban đầu khi nhà trường thành lập thì phần lớn giáo chức và hầu hết nhân viên là công chức của Viện Đại học Huế và Trường Đại học Khoa học cũ. Số giáo chức Đại học Văn khoa đưa sang Trường Đại học Sư phạm nay được chuyển về lại, trừ các giáo viên Anh văn và Pháp văn. Đó là do chúng tôi thống nhất với đề nghị có tình, có lý của anh Nguyễn Văn Hạnh, nhằm giúp trường Sư phạm bảo đảm được đào tạo trước mắt các môn học này.

Ngày 10 tháng 2 năm 1977, tôi đã ký quyết định tiếp nhận số sinh viên Văn khoa mới tốt nghiệp về Trường Đại học Tổng hợp Huế gồm: Đỗ Bang, Phan Đăng, Nguyễn Hữu Thông, Trần Văn Tuấn và Huỳnh Thị Cận. Số cán bộ từ miền Bắc được Bộ điều động về làm việc tại trường Đại học Tổng hợp Huế ngày càng nhiều. Ngay trong năm 1977 đã có các anh chị phụ trách các phòng, ban chức năng của nhà trường: Trần Ngọc Thi, Lê Công Ty, Lê Quang Minh, Lê Quang Đệ, Phan Duệ, Dương Thị Quế, Nguyễn Viết Liêu, Phan Văn Khởi, Nguyễn Đình Đằng, Phan Thị Tiên. Sau đó một thời gian là: Hoàng Ngọc Vinh, Văn Nghi, Lê Duy Hanh, Nguyễn Duy Đường, Trần Mậu Thuận, Lê Thị Lành... Đó là những cán bộ cốt cán của nhà trường có nhiều đóng góp xây dựng nhà trường trên các mặt Tổ chức, Tuyên huấn, Giáo vụ, Tài vụ, Quản trị, Xây dựng, Y tế... từ những ngày đầu. Nhưng số cán bộ quản lý các khoa nhất là những nhà khoa học có kinh nghiệm quản lý và trình độ chuyên môn cao còn quá ít. Đây là một nhu cầu quan trọng phải được giải quyết sớm để tách ba khoa ghép ra thành bảy khoa chuyên ngành, để thành lập thêm khoa ngoại ngữ, bộ môn Mác-Lênin và để kết thúc việc kiêm nhiệm Khoa của Ban Giám hiệu. Khoa Văn - Sử ban đầu có anh Lê Đình Liễn, cô Vũ Thị Việt (Sử), anh Nguyễn Xuân Hòa, cô Trương Thị Thuyết, anh Nguyễn Đình Thảng (Văn). Anh Hồ Tấn Trai về nhận công tác Chủ nhiệm khoa Văn - Sử vào cuối năm 1977. Tôi thôi kiêm nhiệm chức Chủ nhiệm khoa Văn - Sử nhưng vẫn phụ trách tổ trưởng bộ môn dân tộc học. Tháng 10-1978, Bộ có quyết định cho thành lập Khoa Tại chức do anh Lê Trọng Đôn làm Chủ nhiệm khoa và anh Nguyễn Hồng Trân làm phó. Trước đó là Ban Dự bị (từ 1976) do anh Võ Văn Đạt phụ trách, rồi Ban Dự bị-Tại chức.

Bộ môn ngoại ngữ hình thành từ 1977 đến năm 1978, Bộ quyết định thành lập Khoa với ba bộ môn Nga văn, Anh văn và Pháp văn do anh Phạm Cung Quế làm chủ nhiệm khoa và anh Hải làm Phó Chủ nhiệm. Các ngành Hóa, Sinh, Địa được tăng cường nhiều nhà khoa học từ miền Bắc vào và ở nước ngoài về: anh Hoàng Đức Triêm (Địa lý), các anh Trương Văn Lung, Trần Duy Nga, Phan Anh (Sinh học), chị Trương Thị Tường Vi, anh Lê Văn Hinh và anh Lê Bá Thừa (Hóa) học ở Cộng hòa dân chủ Đức về. Đến năm 1980 khoa Hóa-Sinh-Địa tách ra làm ba khoa. Khoa Toán – Lý với các anh Nguyễn Sĩ Hồng và Nguyễn Đống có mặt từ khi mới thành lập trường, đến năm 1985 mới tách thành hai khoa Toán Cơ và Vật Lý. Năm 1978 số cán bộ nhân viên toàn trường tăng lên hơn 230 người, trong đó riêng cán bộ giảng dạy tăng gấp đôi, từ 70 lên 134 người. Đó là bước tiến quan trọng về tổ chức các đơn vị đào tạo của nhà trường trong một thời gian rất ngắn. Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, nhất là Vụ Tổ chức-Cán bộ của Bộ đã rất quan tâm chỉ đạo và giúp đỡ nhà trường. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tích cực hỗ trợ cho trường Đại học Tổng hợp Huế anh em trong việc san sẻ cán bộ và chọn nhiều sinh viên tốt nghiệp xuất sắc đưa vào Huế xây dựng đội ngũ lâu dài.

3- Tuyển sinh khóa đầu tiên

Năm học 1977 – 1978 trường Đại học Tổng hợp Huế tuyển sinh khóa đầu tiên. Chúng tôi bàn với nhau và thống nhất là cố gắng để ngay từ khóa chiêu sinh đầu tiên có các ngành khoa học xã hội: Ngữ văn và Lịch sử. Biết là mở các ngành khoa học xã hội ở một trường mới được thành lập ở vùng mới giải phóng là rất khó khăn, chúng tôi chuẩn bị thật kỹ đề án và ra Hà Nội xin được gặp Bộ trưởng. Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp lúc bấy giờ hẹn cho chúng tôi một buổi làm việc tại nhà riêng vào ban đêm. Chúng tôi biết Bộ trưởng dành ưu ái cho chúng tôi, những người từ Huế ra, vì chương trình làm việc ban ngày đã bố trí kín rồi. Tối hôm đó, trời mưa to gió lớn, anh Hoàng Đức Đạt và tôi đến nhà Bộ trưởng ở khu tập thể Kim Liên. Bước vào phòng, tôi thấy giáo sư Phan Hữu Dật đã có mặt. Sau đó giáo sư Đặng Hữu đến. Không để chúng tôi ngạc nhiên lâu, Bộ trưởng vui vẻ nói: - Tôi biết các anh từ Huế ra đây muốn đề nghị điều gì với Bộ rồi. Các anh muốn mở sớm vài ngành khoa học xã hội ở Huế, làm được thì tốt nhưng rất khó, khó lắm. Vì vậy, tôi đã mời anh Đặng Hữu (lúc đó là thứ trưởng) và anh Phan Hữu Dật (lúc bấy giờ là Hiệu phó Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) cùng dự, nghe và ta bàn.

Sau khi nghe chúng tôi trình bày Bộ trưởng lặng yên suy nghĩ hồi lâu. Những tính toán, lo toan hiện lên rất rõ trên khuôn mặt, trên đôi mắt của Bộ trưởng. Rồi anh nhìn thẳng vào tôi, nói: - Trong Ban Giám hiệu nhà trường chỉ có anh Lộc là nhà khoa học xã hội, lại kiêm công tác Đảng. Số giáo chức cũ dạy khoa học xã hội ở Huế có nhiều người tốt, nhưng phải có thời gian để họ làm quen dần với nhà trường mới, cách dạy mới. Giáo trình, sách các anh chưa có nhiều. Không chuẩn bị thật kỹ mà mở ngành đào tạo sẽ gặp nhiều khó khăn lắm. Đã có chuẩn bị trước, tôi cố gắng giải trình những điều mà Bộ trưởng chưa yên lòng. Vừa nói, tôi vừa quan sát và thử phán đoán kết quả. Tôi có cảm giác là Bộ trưởng hiểu chúng tôi, chia sẻ với nguyện vọng tha thiết của chúng tôi, nhưng chưa có dấu hiệu gì cho thấy Bộ trưởng đã yên tâm và có thể quyết định. Đúng lúc đó, giáo sư Phan Hữu Dật lên tiếng. Anh nói: - Báo cáo với Bộ trưởng là Ban giám hiệu Đại học Tổng hợp Hà Nội đã có họp bàn và nhất trí chi viện kịp thời, tối đa cho Trường Đại học Tổng hợp Huế. Lãnh đạo Khoa Văn, Khoa Sử và nhiều cán bộ giảng dạy sẵn sàng vào Huế. Cụ thể như sau: Về sách và giáo trình: Bất cứ tài liệu nào mà Thư viện Đại học Tổng hợp Hà Nội có từ hai bản trở lên, sẽ tặng trường Huế một bản. Về cán bộ: Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sẽ cử ngay những cán bộ ngành Văn và Sử quê ở miền Trung có nguyện vọng về Huế công tác. Trong số sinh viên sắp tốt nghiệp sẽ chọn cho trường Huế những sinh viên xuất sắc để bồi dưỡng thành cán bộ giảng dạy. Sau khi trường Đại học Tổng hợp Huế chiêu sinh, trường Hà Nội sẽ cử giáo viên vào thỉnh giảng theo yêu cầu của trường Huế, bảo đảm chương trình đào tạo. Anh nói thêm: - Trường Đại học Tổng hợp Huế là anh em thân thiết của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Xin Bộ trưởng giao nhiệm vụ cho chúng tôi. Với một tình cảm sâu sắc, biện pháp cụ thể và thái độ rõ ràng, giáo sư Phan Hữu Dật đã góp phần quan trọng làm cho Bộ trưởng Nguyễn Đình Tứ yên lòng.

Sau đó, giáo sư Thứ trưởng Đặng Hữu đã phát biểu ý kiến ủng hộ chúng tôi. Bộ trưởng phân tích thêm nhiều điều, căn dặn chúng tôi tỉ mỉ và quyết định. Bộ trưởng nhìn tôi với đôi mắt tin yêu và như có ý bảo “mở khoa học xã hội anh sẽ rất vất vả đấy”. Tôi nhớ mãi ánh mắt của Bộ trưởng và lời nói chí tình của đồng chí lãnh đạo Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội anh em đêm hôm ấy. Tôi được biết, sau đó chính anh Phan Hữu Dật đã trực tiếp vận động một số cán bộ của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào Huế, trong đó có anh Hồ Tấn Trai. Một chuyến xe tải chở đầy ắp sách vào tặng Trường Đại học Tổng hợp Huế cũng có bàn tay điều hành trực tiếp của anh Dật. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Những gì mà Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội chia sẻ cho Trường Đại học Tổng hợp Huế vào buổi sơ sinh này thật quí giá vô cùng. Để chiêu sinh khóa đầu tiên vào đầu năm học 1977 – 1978 nhà trường phải khẩn trương chuẩn bị cơ sở vật chất. Bên cạnh việc chăm lo nhà ở cho gia đình cán bộ, giáo viên phải xây dựng cư xá cho sinh viên.

Cơ sở vật chất của Trường Đại học Tổng hợp Huế lúc mới thành lập có khá nhiều, nhưng không tập trung, chưa ổn định và không đồng bộ. Hiệu bộ ở số 3-Lê Lợi (1.800m2) rất khang trang. Thư viện ở 20-Lê Lợi (1.300m2) khá bề thế. Nhưng chỗ học (giảng đường, phòng thí nghiệm, thực tập...) ở khu Morin thì sẽ phải giao lại cho T?nh. Còn trường nhận khu trường Thiên Hữu (37.000m2 đất tự nhiên) ở 27 Nguyễn Huệ thì sẽ phải đầu tư xây dựng lớn. Chỗ ở cho cán bộ thì đang tạm sử dụng khu số 4-Lê Lợi làm chỗ ở cho hơn 30 gia đình, số 7-Hà Nội cho gần 10 gia đình, cư xá Nam Giao và số 6 Trưng Trắc mỗi nơi 5-3 gia đình. Cư xá sinh viên chưa có. Đó là một nhiệm vụ cấp bách được giao cho Ban Kiến thiết cơ bản của trường mới được thành lập. Đến khi sinh viên khóa I nhập học thì tại 27 Nguyễn Huệ đã hoàn thành 4 dãy nhà xây lợp ngói, mỗi nhà có 10 phòng và mỗi phòng dành cho 10 sinh viên (5 giường 2 tầng). Khu nhà ở 5 tầng dành cho 50 hộ gia đình của cán bộ giáo viên ở đường Đống Đa cũng đã khởi công, vươn lên cao. Cán bộ về trường nhận công tác có thể nhìn thấy trong tầm mắt mình một khung cảnh “an cư lạc nghiệp”. Sinh viên vào học được giải quyết đủ chỗ ở cho những người có nhu cầu.

Năm học 1977-1978, Trường Đại học Tổng hợp Huế tuyển sinh hệ dài hạn khóa chính qui đầu tiên với 338 sinh viên đủ cả 7 ngành học: Toán, Lý, Hóa, Sinh, Địa, Văn, Sử. Trong đó ngành Văn đông nhất, có 61 sinh viên. Gần 50 sinh viên ngành Sử khóa I có em Trần Thị Phương Liên là người khuyết tật được Bộ giải quyết cho vào học. Suốt 4 năm liền Phương Liên được Nguyễn Phi Nga và các bạn nữ khác trong lớp thay nhau cõng đi học, là một điển hình hiếm có. Để đảm bảo thực hiện nghiêm túc chương trình đào tạo, ngay từ khóa đầu tiên chúng tôi đã thành lập bộ môn Mác-Lênin. Ban đầu có hai anh Võ Duy Chất và Nguyễn Ngọc Tranh. Sau đó có các anh Đặng Thạnh, Võ Ngọc Huy, Đạt, Vui và chị Lựu. Bộ môn quân sự- Thể dục do anh Trương Sĩ Dạn phụ trách. Còn giáo viên dạy quân sự chúng tôi nhờ Quân đoàn 2. Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 với Thiếu tướng Tư lệnh Nguyễn An và Thiếu tướng Chính ủy Lê Linh dành cho Trường Đại học Tổng hợp Huế tình cảm thân thiết và quan hệ chặt chẽ. Lúc bấy giờ anh Lê Khả Phiêu là Đại tá, Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân đoàn còn đến thăm gia đình cán bộ nhà trường ở số 4-Lê Lợi. Khi Quân đoàn chuyển đi làm nhiệm vụ ở Campuchia, còn anh Lê Khả Phiêu nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân Khu 9 chúng tôi vẫn còn giữ được quan hệ. Và tôi đã dẫn đầu đoàn đại diện của nhà trường ra thăm Bộ tư lệnh Quân đoàn đóng ở Bắc Giang sau khi hoàn thành nhiệm vụ trở về nước. Tiếp chúng tôi là Thiếu tướng Nguyễn Chơn, Tư lệnh mới Quân đoàn và Thiếu tướng Thái Cán, Tư lệnh Sư đoàn 304 của Quân đoàn là người quen thân với Trường Đại học Tổng hợp Huế thời Binh đoàn Hương Giang ở Bình-Trị-Thiên.

Sinh viên các lớp Văn, Sử khóa I của Trường Đại học Tổng hợp Huế ngay từ những năm học đầu tiên đã được học với các thầy giáo từ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào dạy. Các thầy thỉnh giảng không chỉ giúp dạy các môn học trong chương trình cho sinh viên mà còn góp phần bồi dưỡng cán bộ trẻ và nghiên cứu các đề tài khoa học mà Huế là địa bàn tốt để thực hiện: phong trào Tây Sơn, Lịch sử Triều Nguyễn, Phật giáo ở Huế, các phong trào đấu tranh, chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ...
Cùng với việc mời giáo viên từ Hà Nội vào giảng dạy, nhà trường đã sớm quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ cho các ngành Văn, Sử. Trong năm 1977 một số sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Tổng hợp Hà Nội về nhận công tác: Nguyễn Văn Tận, Bùi Thị Tân, Lê Đình Phúc, Hà Văn Thịnh (Sử), Lương Ngọc Bính, Đào Văn Khải, Lê Tài Thuận, Phan Thị Hồng Minh, Đỗ Thị Bích Lài (Văn). Năm sau đó thì có: Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Thị Nguyệt Tâm (văn)... Số anh chị em này một vài người nhận công tác ở phòng chức năng, ở thư viện trường, còn phần lớn ở hai khoa. Họ đã sớm được giao nhiệm vụ chuẩn bị để lên lớp. Nhiều người về sau là cán bộ cốt cán của trường.

4- Mở hệ đào tạo tại chức

Sau khi chiêu sinh khóa 1 dài hạn tập trung chính qui, Trường Đại học Tổng hợp Huế đã nhanh chóng mở đào tạo hệ tại chức. Hệ dự bị thì đã mở từ năm 1976, còn hệ tại chức khóa 1 tuyển từ năm 1978 với hai lớp: Văn (33 sinh viên) và Toán (25 sinh viên). Đến khóa 2 có lớp Sử (28 sinh viên). Người học là cán bộ đang công tác ở khắp các tỉnh miền Trung và một số của các đơn vị quân đội, công an. Đây là một nỗ lực lớn của Trường Đại học Tổng hợp Huế trong những năm mới thành lập nhằm góp phần đào tạo cán bộ từ những đối tượng diện chính sách. Lớp dự bị đại học đầu tiên rồi khóa 1 đại học chính qui tập trung dài hạn, rồi tiếp là hệ đại học tại chức khóa 1. Đó là những đứa con đầu lòng của người mẹ trẻ ra đời trong hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, là niềm tự hào chính đáng. Đó là kết quả lao động của tập thể Trường Đại học Tổng hợp Huế trong những năm đầu mới thành lập trường. Để từ đó có khóa 2, khóa 3, khóa 10 và nhiều khóa nữa trong tương lai. Để rồi từ đó có những ngành học mới, hệ đào tạo mới ở Trường Đại học Tổng hợp Huế.

5- Một vài kỷ niệm về nghiên cứu khoa học

Có một kỷ niệm vào thời gian này mà tôi nhớ mãi là việc tìm hiểu lăng mộ vua Quang Trung. Một số nhà nghiên cứu tại Huế cởi mở và nhiệt thành mời tôi đi thăm Lăng Ba Vành mà họ rất tự tin coi đó là nơi chôn Quang Trung. Tôi rất vui và phấn khởi cùng đi thực địa với họ. Tôi không phải chuyên gia về lĩnh vực này, chưa hề được tìm hiểu, nghiên cứu, nên rất chú ý lắng nghe. Đứng nhìn đồi Vọng Cảnh, Thiên An, quan sát kỹ ngôi mộ có ba vòng thành như tên gọi “Ba Vành” và hồ bán nguyệt, nấm mộ bị đục khoét, dấu tích của một sự xâm hại đến thi hài người được chôn... ở địa điểm đúng như thư tịch ghi là “bờ nam sông Hương”. Tôi đã rất dè dặt phát biểu với các đồng nghiệp ở Huế: - Nếu đúng đây là mộ Quang Trung thì rất tốt cho Huế và cho cả đất nứơc. Ta sẽ giới thiệu với khách trong và ngoài nước khi họ đến Huế về một di tích lịch sử quan trọng. Nhưng, trong khoa học, từ một giả thuyết đến một kết luận khoa học vững chắc thường là một đoạn đường dài... Thực sự tôi chưa thấy thuyết phục. Bởi thư tịch chép rõ khi Gia Long lên ngôi đã trả thù Nguyễn Huệ, cho “tru di tam tộc, quật mộ, san bằng, lấy xương đốt thành tro đổ xuống sông, còn sọ thì giam vào ngục có dây sắt xích lại...” Hiện trạng của Lăng Ba Vành không thể hiện rõ điều này. Vậy, chủ nhân ngôi mộ là ai? Tôi đã cùng một số bạn trẻ ở Trường Đại học Tổng hợp Huế hồi đó cố tìm câu trả lời bằng cách phục hồi bia mộ, sưu tầm các gia phả có thể liên quan ở Huế, ở Phú Vang và cả ở Phú Lộc. Còn mộ vua Quang Trung ở đâu thì cho đến nay vẫn còn là một tồn nghi chưa có câu trả lời. Mùa hè năm 1977, Giáo sư Phan Huy Lê dẫn đầu một đoàn cán bộ vào nghiên cứu phong trào Tây Sơn từ Huế đến Bình Định. Tôi đã xin thầy Lê cho Đỗ Bang được theo thầy học hỏi, tham gia nghiên cứu về Tây Sơn ở Huế và miền Trung.

Cùng với nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ quan trọng của một trường đại học. Trường Đại học Tổng hợp Huế đã hết sức quan tâm, tổ chức thực hiện tốt ngay từ những năm mới thành lập trường. Đông đảo cán bộ của tất cả các ngành đào tạo trong nhà trường hăng hái tham gia. Năm 1977, Hội nghị khoa học Trường Đại học Tổng hợp Huế lần thứ nhất đã được tổ chức. Kỷ yếu hội thảo có hàng chục báo cáo khoa học cả về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Những báo cáo về nghiên cứu cơ bản và nhiều báo cáo nghiên cứu ứng dụng, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Trong bức thư gửi cho trường hồi mùa thu năm 1979, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Làm tốt đến đâu còn phải xem xét rồi mới đánh giá. Nhưng Trường Đại học Tổng hợp Huế biết suy nghĩ đề ra những chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển nông nghiệp, phục vụ địa phương như vậy là giỏi, là thông minh”.

Đến ngày kỷ niệm 10 năm thành lập (1986), Trường Đại học Tổng hợp Huế đã tổ chức được 6 hội nghị khoa học toàn trường, in 12 tập kỷ yếu với 246 báo cáo khoa học. Cán bộ nhà trường đã thực hiện 33 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ quản lý, 102 đề tài cấp Trường quản lý. Cán bộ khoa học của Trường Đại học Tổng hợp Huế còn hăng hái tham gia nhiều hội nghị khoa học của các ngành, các địa phương, xứng đáng là một trung tâm khoa học ở miền Trung. Kết quả của hoạt động nghiên cứu khoa học làm cho nhà trường gắn bó với các địa phương và cán bộ trẻ của các khoa tiến bộ nhanh chóng. Thời gian này tôi rất hăng say hoạt động nghiên cứu khoa học. Tôi là Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học nhà trường, chủ biên Tập san khoa học phần Khoa học Xã hội, chỉ đạo và động viên các khoa Văn – Sử tham gia nghiên cứu khoa học. Tôi làm chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ quản lý “Nghiên cứu các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và Trường Sơn” với sự tham gia của tất cả cán bộ bộ môn dân tộc học. Hằng năm tôi đều có thời gian đi nghiên cứu điền dã dân tộc học. Tôi đã lần lượt đến khảo sát: dân tộc Tà Ôi ở huyện A-Lưới, dân tộc Cơ tu ở Nam Đông, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, dân tộc Bru -Vân Kiều ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, dân tộc Hrê ở huyện Sơn Hà và huyện Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi, dân tộc Bana ở huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, các dân tộc Êđê và Chăm Hroi ở tỉnh Phú Yên và dân tộc Raglai ở huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa. Có lần vợ tôi cùng đi nghiên cứu điền dã, hai đứa con còn quá nhỏ phải nhờ người trông coi. Năm 1984 Nhà xuất bản Thuận Hóa đã ấn hành quyển sách “Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên” (272 trang) do tôi chủ biên và các tác giả Nguyễn Hữu Thông, Trần Văn Tuấn, Dương Đình Khôi, Vũ Thị Việt, Nguyễn Xuân Hồng và Nguyễn Văn Mạnh. Đó là kết quả của những đợt nghiên cứu điền dã dân tộc học khắp các tỉnh miền Trung và là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do tôi chủ trì. Năm 1985, quyển sách Truyện cổ Tà Ôi (120 trang) được xuất bản do tôi chủ biên và Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Thị Hòa sưu tầm, biên soạn.

Năm 1986, quyển sách “Danh nhân Bình Trị Thiên” (275 trang) xuất bản có bài viết của tôi về Côn Púa. Đó là kết quả của những đợt nghiên cứu dân tộc học điền dã mà tôi kiên trì thực hiện. Tôi còn tham gia các hội thảo khoa học của ngành và ở khá nhiều địa phương. Năm 1978, tôi ra Hà Nội dự hội nghị khoa học kỷ niệm 10 năm thành lập Viện Dân tộc học. Vợ tôi, cô Vũ Thị Việt cũng được mời dự nên vợ chồng tôi phải đưa con gái mới 3 tuổi theo. Một kỷ niệm quí giá là khi chụp ảnh Thủ tướng Phạm Văn Đồng với các nhà dân tộc học thì thấy rõ cháu đứng bên cạnh mẹ. Tôi được mời đến dự và đọc báo cáo ở nhiều hội thảo khoa học về văn hóa, văn học dân gian, về lịch sử, dân tộc học ở Huế (1979, 1981), ở Quảng Nam (1980), Vĩnh Linh (1983)...

Năm 1981 tôi đã tổ chức “Hội nghị nghiên cứu dân tộc học tỉnh Phú Khánh” tại thành phố Nha Trang sau đợt nghiên cứu điền dã tại địa phương. Anh Phan An và một số nhà dân tộc học của Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh cùng ra dự. Năm 1983, tôi được mời dự “Hội nghị khoa học nghiên cứu Tây Nguyên lần thứ nhất tại Buôn Ma Thuột do Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam tổ chức. Tại hội thảo quốc gia này tôi đã đọc bản báo cáo “Từ Tuyên Hóa đến Khánh Sơn”, một nghiên cứu dân tộc học dọc Trường Sơn. Vào dịp này tôi có tặng đồng chí Yngông Niekđam, Bí thư Tỉnh ủy Daklak bản báo cáo khoa học mà tôi đã viết nhưng không đọc tại hội thảo nhan đề “F.U.L.R.O – Quá trình diễn biến và những âm mưu cơ bản”. Bài viết đó sau tôi đã đăng ở Thông tin khoa học số 5, tập II.

Từ Thành phố Hồ Chí Minh, anh Đoàn Thanh Hương, Trưởng Ban khoa học xã hội Thành ủy đã mời tôi vào dự hội thảo và gửi bài đăng ở công trình nghiên cứu “Bác Hồ với miền Nam, miền Nam với Bác Hồ” (1985). Một hoạt động khoa học phục vụ địa phương mà tôi đã tổ chức được trong thời gian này là biên soạn và xuất bản tập san khoa học mang tên “Thông tin dân tộc” theo đề nghị của Ban Dân tộc Tỉnh ủy Bình-Trị-Thiên do đồng chí Hồ Ray làm Trưởng ban. Số 1 xuất bản năm 1980 với những bài viết ngắn, gọn, dễ hiểu, thiết thực, vừa phổ biến những kiến thức khoa học thường thức vừa đề xuất những giải pháp thực tiễn. Cho đến khi tôi rời Huế, tập san ra được số thứ 7 rồi dừng lại.

6- Xây dựng bộ môn dân tộc học và phòng bảo tàng dân tộc học của trường

Trong việc xây dựng Bộ môn dân tộc học ở Trường Đại học Tổng hợp Huế, bên cạnh bồi dưỡng cán bộ trẻ để giảng dạy các môn học, tổ chức đề tài nghiên cứu khoa học, xuất bản các công trình, tôi đã có một ý tưởng táo bạo và thực hiện thành công là xây dựng Bảo tàng Dân tộc học. Cho đến nay ở nước ta các trường đại học có ngành đào tạo dân tộc học, cũng chưa lập được một bảo tàng phục vụ cho học tập, nghiên cứu và giới thiệu văn hóa các dân tộc. Ở trường Đại học Tổng hợp Huế ngay từ những năm đầu tôi đã tổ chức thực hiện. Dành một gian phòng rộng với mấy chiếc tủ kính cỡ lớn của trường Văn Khoa để lại, tôi quyết định lập Bảo tàng Dân tộc học.

Cuối năm 1976 các anh Dương Đình Khôi và Trần Văn Tuấn đi khảo sát người Cơtu ở Nam Đông mang về mấy chiếc gùi và ít hiện vật. Sau đó, một chuyến đi xa của Trần Văn Tuấn và Nguyễn Hữu Thông đã mang từ Daklak về nhiều hiện vật quí: mấy chiếc áo dân tộc Êđê, một số nhạc cụ dân tộc, vũ khí săn bắn... Cả chiếc cối giã gạo cũng được các anh cho vào balô mang về cho bảo tàng. Cô Vũ Thị Việt đã sưu tầm gần đủ ảnh màu của 54 dân tộc trong cả nước. Từ đó, một bộ tranh màu cỡ lớn do họa sĩ Trần Mậu Dung vẽ trên gỗ lần lượt treo kín các bức tường của phòng Bảo tàng. Năm 1978 khi ra Hà Nội họp, tôi đã mang đi hai bức “Dân tộc Chứt” và “Dân tộc Tà Ôi” tặng Viện Dân tộc học. Sau khi chiêu sinh khóa 1, hằng năm sinh viên đi thực tập đều có yêu cầu thu thập hiện vật dân tộc học cho Bảo tàng. Năm 1978 nhóm sinh viên đi Trà My (Quảng Nam – Đà Nẵng) mang về toàn bộ lễ vật treo ở cột đâm trâu cùng với một bản khảo tả tỉ mỉ lễ đâm trâu của người Cà dong mà họ được dự. Sinh viên đi nghiên cứu người Rục ở Quảng Bình đã mang từ hang Cu Nhái về tấm khố bằng vỏ cây, gói bột nhúc và ống rượu đoác. Đó là những hiện vật minh họa cho bài giảng rất tốt. Trong các đợt đi khảo sát điền dã dân tộc học, tôi đều mang về nhiều hiện vật thu thập được. Có lần, bà con Êđê xã Khánh Thượng cho chúng tôi một hiện vật gốc là chiếc hòm hình thuyền ở một ngôi mộ nhưng không được đưa đi qua buôn làng của họ. Chúng tôi phải xuyên rừng để đi rồi phải thuyết phục tài xế để chở của quí đó từ vùng núi Khánh Hòa về đến Huế. Bảo tàng cũng trưng bày những hiện vật dân tộc học của người Kinh. Các sưu tập tiền cổ, sản phẩm nghề đúc ở Huế và một số nghề thủ công, sưu tập dụng cụ đo lường dân gian ở miền Trung...

Bảo tàng Dân tộc học Trường Đại học Tổng hợp Huế được xây dựng không tốn nhiều kinh phí nhưng mất lắm công sức của cả thầy lẫn trò và phục vụ trước hết cho học tập và nghiên cứu. Khách trong nước và ngoài nước đến thăm Trường Đại học Tổng hợp Huế bao giờ cũng dừng khá lâu và xem một cách thích thú Bảo tàng Dân tộc học của trường. Đó là một trong những kỉ niệm đáng nhớ của tôi thời gian sống và làm việc ở Huế. Ngày 28-5-1984, tôi được công nhận chức vụ khoa học Phó giáo sư chuyên ngành dân tộc học tại Quyết định số 81/HĐBT do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký. Đây là một vinh dự lớn và trách nhiệm nặng của tôi trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Ở Trường Đại học Tổng hợp Huế cùng được phong học hàm phó giáo sư với tôi trong đợt này có các anh Hoàng Đức Đạt (ngư loại học), Nguyễn Sĩ Hồng (phương trình Toán Lý), và Nguyễn Đống (cơ học).

7- Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế

Là một trung tâm khoa học ở miền Trung tọa lạc tại cố đô, Trường Đại học Tổng hợp Huế sớm được chú ý và có điều kiện thực hiện quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế từ đầu. Nhiều đoàn khách nước ngoài đã đến thăm trường. Sổ lưu niệm của trường dày đặc những trang viết bằng các thứ tiếng khác nhau Nga, Anh, Pháp, Tiệp Khắc, Đức, Ba Lan, Nhật Bản... với các năm tháng khác nhau phản ảnh quan hệ và công tác đối ngoại của trường.

Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết tại Việt Nam đến thăm vào những ngày trường mới thành lập (11-1977). Nhà du hành vũ trụ G.Titốp, Anh hùng Liên Xô, Anh hùng Lao động Việt Nam, Chủ tịch Hội hữu nghị Xô - Việt đến thăm trường bày tỏ “tin tưởng trường Đại học Tổng hợp Huế sẽ có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển và củng cố tình hữu nghị anh em giữa tuổi trẻ học đường của hai nước và nhân dân hai nước Việt – Xô” (1980). Trường Đại học Tổng hợp Huế chính thức kết nghĩa với Trường Đại học Tổng hợp quốc gia Lênin ở thành phố Minxcơ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Belorutxia. Quan hệ họp tác đó được mở đầu bằng sự kiện đoàn đại biểu trường bạn do giáo sư Phêđenkô, Phó Hiệu trưởng và giáo sư Pritưxkaia, nữ anh hùng Liên Xô, Chủ nhiệm bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô của trường sang thăm và ký kết hợp tác (12-1980).

Năm 1982 tôi và anh Nguyễn Sĩ Hồng, Chủ nhiệm khoa Toán-Lý, đã sang Minxcơ thăm và tìm hiểu tình hình trường bạn, xúc tiến các quan hệ hợp tác.. Cuối năm 1984, lần thứ hai trường Đại học Tổng hợp Minxcơ cử đoàn đại biểu do giáo sư Sarapo, Phó Hiệu trưởng phụ trách đối ngoại và Chủ nhiệm Khoa Vật Lý Spilevski sang thăm, làm việc. Giáo sư Spilevski đã ở lại dạy cho sinh viên Trường Đại học Tổng hợp Huế một tháng.

Năm 1985, anh Hoàng Đức Đạt, Hiệu trưởng, đi học ở Trường Nguyễn Ái Quốc chưa về, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã có văn bản số 150/VP ngày 30 tháng 10 năm 1985 gửi Đại sứ quán nước ta tại Liên Xô giới thiệu: “Đoàn đại biểu của Trường Đại học Tổng hợp Huế do giáo sư Nguyễn Quốc Lộc, Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng dẫn đầu và gồm hai đoàn viên sang làm việc với Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Belorutxia kết nghĩa để kiểm điểm tình hình thực hiện hiệp định ký kết giữa hai trường (1980 – 1985) và chuẩn bị cho kế hoạch hợp tác 5 năm tới”. Lần này sang Minxcơ, chúng tôi đã gặp các cán bộ của trường Đại học Tổng hợp Huế đang học ở trường bạn: anh Nguyễn Văn Tận và anh Nguyễn Khắc Thái đang làm nghiên cứu sinh ngành Sử, anh Lê Đình Liễn đang thực tập ở trường Đại học Rôxtôc trên sông Đông cũng được chuyển đến đây học tập. Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp quốc gia Belorutxia, Viện sĩ Kixelepski đã nồng nhiệt đón tiếp đoàn Đại học Tổng hợp Huế và cùng tôi ký văn bản hợp tác mới giữa hai trường.

8- Địa chỉ đào tạo có chất lượng uy tín của miền Trung

Không chỉ làm tốt công tác đối ngoại, họp tác quốc tế với khá nhiều nước, Trường Đại học Tổng hợp Huế còn có quan hệ chặt chẽ tốt đẹp với nhiều trường đại học anh em và với các tỉnh ở miền Trung. Với các trường ở Huế: Trường Đại học Sư phạm Huế, Trường Đại học Y khoa Huế vốn cùng là thành viên của Viện Đại học Huế trước đây, và Trường Đại học Nông nghiệp Huế mới thành lập, hỗ trợ nhau, hợp tác với nhau cùng làm tốt nhiệm vụ. Nhất là trong các mặt hoạt động mà tôi có trách nhiệm chăm lo: quản lý sinh viên, phong trào văn nghệ, công tác thi đua...
Trường Đại học Tổng hợp Huế có quan hệ thân thiết với các trường cùng hệ thống: Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Đà Lạt. Lãnh đạo các trường gặp nhau hằng năm, xúc tiến nhiều chương trình hợp tác cụ thể. Với các tỉnh ở duyên hải miền Trung và Tây Nguyên Trường Đại học Tổng hợp Huế đã chủ động xây dựng được quan hệ gắn bó. Ngay sau khi thành lập trường, chúng tôi đã nghĩ đến việc phải nhanh chóng tìm hiểu tình hình về mọi mặt của các tỉnh trong địa bàn tuyển sinh và tiến hành nghiên cứu khoa học phục vụ xã hội.

Đầu năm 1979, một chuyến khảo sát qui mô lớn được thực hiện. Cuộc hành trình qua tất cả các tỉnh với sự tham gia của Ban giám hiệu và lãnh đạo các khoa trong trường đã giúp chúng tôi có được những hiểu biết cơ bản toàn diện về tình hình đặc điểm tự nhiên và xã hội, về nhiệm vụ cách mạng trước mắt và lâu dài của từng tỉnh. Sự đón tiếp nồng nhiệt và những bản báo cáo rất bổ ích của các tỉnh không chỉ giúp chúng tôi hiểu biết thực tế các địa phương, mà còn động viên cổ vũ và nâng cao trách nhiệm của nhà trường. Hằng năm, chúng tôi có dịp đến các tỉnh ở miền Trung và được nghe những ý kiến đánh giá sinh viên của trường ra công tác, được trao đổi về nghiên cứu khoa học, được trình bày về công việc của trường với lãnh đạo các tỉnh và nghe tình hình về mọi mặt của tỉnh. Sự hiểu biết thực tế của chúng tôi ngày càng sâu hơn và quan hệ giữa nhà trường với các tỉnh ở miền Trung gắn bó ngày càng chặt chẽ. Đầu năm 1986, để chuẩn bị kỷ niệm 10 năm thành lập trường Đại học Tổng hợp Huế, chúng tôi lại tổ chức một chuyến đi qui mô lớn đến các tỉnh. Cái khác của cuộc hành trình năm 1986 với cuộc hành trình năm 1979 là lần sau đến đâu chúng tôi cũng gặp đông đảo sinh viên tốt nghiệp của trường đang công tác ở địa phương và nhiều đề tài nghiên cứu của trường phục vụ địa phương đã có kết quả. Có thể nói, lần trước là chúng tôi “đến”, còn lần sau là chúng tôi “về” các tỉnh miền Trung. Tôi là người thực hiện đề tài nghiên cứu dân tộc học các tỉnh miền Trung nên ngoài trách nhiệm là người lãnh đạo nhà trường còn là nhà khoa học góp phần phục vụ các địa phương. Do đó tôi có quan hệ thường xuyên và được lãnh đạo các tỉnh luôn ưu ái. Thành phố Huế và tỉnh Bình-Trị-Thiên là “cái nôi” của trường Đại học Tổng hợp Huế. Công tác đào tạo cán bộ, cung cấp sinh viên tốt nghiệp, nghiên cứu khoa học của nhà trường thực hiện trên địa bàn Bình-Trị-Thiên nhiều hơn cả. Khi các nhà sinh vật học nghiên cứu vùng đầm phá, khoa Toán phục vụ công trình đại thủy nông Nam Thạch Hãn, khoa Địa tìm hiểu vùng gò đồi, khoa Hóa nghiên cứu than bùn ở Quảng Trị, các nhà ngữ văn nghiên cứu Huế... thì tôi và các cán bộ dân tộc học của trường đến vùng các dân tộc thiểu số ở miền núi Bình-Trị-Thiên. Quan hệ thân thiết với Ban Dân tộc Tỉnh ủy và với Sở Văn hóa – Thông tin t?nh Bình-Trị-Thiên mà tôi có được là từ những hoạt động nghiên cứu khoa học gắn với thực tiễn, với địa phương.

Tỉnh Phú Khánh cách Huế hơn 600 cây số về phía Nam, là địa phương xa trường ở duyên hải miền Trung. Tôi đã thực hiện nghiên cứu điền dã dân tộc học nhiều lần ở các huyện miền núi: Khánh Vĩnh, Khánh Sơn (Khánh Hòa) và Sơn Hòa, Sông Hinh (Phú Yên). Tháng 5 năm 1981 tôi đã tổ chức thành công một Hội nghị khoa học tại Nha Trang. Ở đó, tôi đã đọc báo cáo “Nghiên cứu dân tộc học các dân tộc ít người tỉnh Phú Khánh (mấy vấn đề lý luận, kinh nghiệm và phương hướng nghiên cứu)” và một báo cáo thực tiễn “Ghi chép ở xã Krong Pa (suy nghĩ về vấn đề cán bộ và vấn đề văn hóa)”. Tháng 8-1985, trong buổi gặp mặt thân mật lãnh đạo các trường đại học ở miền Trung về dự Hội thảo hè ở Nha Trang, đồng chí Cao Xuân Thiêm (tức Văn Công), Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Khánh đã nhấn mạnh yêu cầu về nghiên cứu miền núi của t?nh và đề nghị trường Đại học Tổng hợp Huế tiếp tục cứu giúp cho tỉnh. Ngày 15-9-1986, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Khánh đã tặng Bằng khen cho tôi ghi rõ “đã có thành tích đào tạo cán bộ và giúp cho tỉnh Phú Khánh phát triển kinh tế – văn hóa”.
Phú Yên là quê tôi. Không về sống và làm việc ở quê nhà nên làm được điều gì có ích cho quê hương tôi rất mừng. Tôi vui khi được biết các sinh viên Phú Yên ra học ở Trường Đại học Tổng hợp Huế có em tôi là Nguyễn Công Lập và các bạn trẻ đạt kết quả tốt: Phan Thanh Bình (Văn), Nguyễn Thị Thảo, Lê Thị Nở, Trần Công Lính (Sinh vật), Nguyễn Mừng, Nguyễn Niên, Lê Văn Trương, Lê Thế Vinh (Sử)... Thủ khoa lớp Văn tại chức khóa đầu tiên là Huỳnh Văn Học (ở Tuy Hòa). Những chuyến thực tập về Phú Yên rất được khích lệ, nhiều đề tài nghiên cứu về Phú Yên được triển khai mà sinh viên không phải quê ở Phú Yên cũng yêu thích.

Tháng 12-1983, lễ phát bằng cho sinh viên khóa I của Trường Đại học Tổng hợp Huế được tổ chức tại Buôn Ma Thuột. Hồi đó, sinh viên ra trường phải sau hai năm tập sự mới về lại trường nhận bằng. Chúng tôi đến tận nơi phát bằng cho sinh viên khỏi phải ra Huế. Quây quần trong buổi gặp mặt đầy xúc động đó có gần 60 sinh viên đã ra trường. Khi trao bằng cho các em, trong đó có Krong Niê Mai Hoan (dân tộc Êđê, học Sử) và Bùi Thị Kim Nga (dân tộc Mường) tôi thầm nghĩ đã làm được một phần lời hứa với lãnh đạo tỉnh Daklak, với Tây Nguyên, trong việc góp phần đào tạo cán bộ người dân tộc. Chúng tôi cũng rất quan tâm đào tạo cán bộ dân tộc Chăm ở miền Trung, Lần tuyền sinh năm 1982 có 7 em người Chăm ở Phan Rang ra Huế dự thi đều không đạt được điểm chuẩn. Tôi đã báo cáo lên Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đề nghị cho các em được vào học dự bị. Thứ trưởng Hoàng Xuân Tuỳ đã đồng ý và còn căn dặn tôi phải quan tâm chăm sóc để các em học được tốt. Sau khi các em vào học, Tỉnh ủy Thuận Hải đã cử đồng chí Văn Hiệp, tỉnh ủy viên, Trưởng Ban Dân tộc ra Huế thăm và cám ơn nhà trường.

Ở tỉnh Nghĩa Bình chúng tôi đã nhiều lần đi theo đường số 1 dọc tỉnh, đường 19 lên An Khê, đến các huyện miền núi Ba Tơ, Sơn Hà, Vân Canh... để hiểu rõ về quê hương của anh hùng Nguyễn Huệ, của khởi nghĩa Ba Tơ, của đồng Khởi Trà Bồng. Những kết quả nghiên cứu dân tộc học người H’rê, người Bana, người Cà Dong... giúp chúng tôi hiểu kỹ thêm vùng đất bất khuất, nhân dân kiên cường và địa phương quí trọng nhà trường.

Quảng Nam-Đà Nẵng gần Trường Đại học Tổng hợp Huế, là nơi sinh viên tốt nghiệp về công tác đông hơn cả. Địa bàn này có thực tiễn phong phú, đa dạng, hấp dẫn cả về khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội, trong đó có dân tộc học. Trong dịp Trường Đại học Huế đón nhận huân chương lao động hạng ba, đồng chí Nguyễn Thị Lãnh Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng đã trao cho trường Bằng khen của tỉnh và phát biểu đánh giá cao sự đóng góp của trường đối với tỉnh. Huân chương lao động hạng Ba do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Trường Đại học Tổng hợp Huế theo Quyết định số 272/NQ-HDNN ngày 27-01-1983 ghi rõ: “Trường Đại học Tổng hợp Huế đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua hai tốt, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”. Lúc đó trường mới bước qua tuổi thứ 5. Trước đó, khi tròn 2 tuổi Trường Đại học Tổng hợp Huế đã được công nhận là trường tiên tiến xuất sắc, được tặng cờ của Bộ và bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Còn sau nữa, trường được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước tặng thưởng Huân chương lao động hạng Hai vào năm 1991 và Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất vào năm 1996. Thành tích xuất sắc Trường Đại học Tổng hợp Huế đạt được liên tục, ngày càng cao, mà khởi đầu là những năm trường mới thành lập.

9- Vượt qua khó khăn, thách thức, nhanh chóng trưởng thành

Đó là thời gian mà cán bộ, công nhân viên và sinh viên trong trường đã đoàn kết nhất trí, chịu đựng gian khổ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức để xây dựng nhà trường, nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt. Giáo sư Ngụy Như kontum, Hiệu trưởng, và giáo sư Hoàng Xuân Nhị, Chủ nhiệm Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã ghi mấy vần thơ vào sổ lưu niệm của trường: “Lãnh đạo trẻ, cán bộ thiếu, Tổng hợp Huế đầy sức xuân. Gặp nhau, tinh thần đồng điệu Xa nhau, thương nhớ bội phần” (25-9-1978). Một “sức xuân” để khắc phục nhiều thiếu thốn, khó khăn không tránh khỏi của một trường đại học mới thành lập, để vượt qua những thử thách lớn lao của tình hình kinh tế – xã hội lúc bấy giờ.

Cuối năm 1978 bọn Pôlpốt – Yêng Xari cho quân xâm phạm biên giới Tây Nam của nước ta. Năm 1979, chiến tranh biên giới ở phía Bắc gây ra bao nhiêu tổn thất cho nhân dân ta ở 6 tỉnh từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Phong Thổ (Lai Châu). Tình hình về kinh tế và đời sống nhân dân cả nước thời gian này có nhiều khó khăn. Huế là một trong những nơi khó khăn nhất và đời sống những người ăn lương càng khổ. Cơm ăn độn sắn, khoai, bobo không đủ no. Cán bộ, công nhân viên và sinh viên nhà trường hăng hái lao động để sản xuất tự túc, cải thiện đời sống. Nhà trường đã phải cử nhiều người vào phía Nam mua gạo về bán rẻ cho cán bộ-công nhân viên. Các trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách Khoa, Đại học Cần Thơ đã hết lòng giúp đỡ trường Đại học Tổng hợp Huế. Những chuyến xe chở gạo về Huế với bao nhiêu công sức của người đi mua và tình cảm thân thiết của các trường bạn.

Cán bộ và sinh viên nhà trường tham gia nhiều đợt lao động sản xuất trồng sắn ở Nam Đông, ở nông trường Tân Lâm, khai hoang ở Bình Điền, sản xuất ở trạm trại Hải Cát. Những hoạt động khoa học mang lại hiệu quả kinh tế được khuyến khích. Nghiên cứu qui trình tẩy trắng mặt mây xuất khẩu của TS. Lê Bá Thừa (khoa Hóa) đạt chất lượng cao mà tiết kiệm được 50% hóa chất là một thành công nổi bật, phục vụ đắc lực cho công tác xuất khẩu của địa phương và mang lại thu nhập cho nhà trường.

Chịu đựng nhiều gian khổ, khắc phục được những khó khăn, vượt qua mọi thử thách xây dựng Trường Đại học Tổng hợp Huế nhanh chóng lớn mạnh, tiến bộ toàn diện và vững chắc, được cấp trên biểu dương và các địa phương tin yêu... là bài học kinh nghiệm về coi trọng công tác chính trị tư tưởng của lãnh đạo nhà trường. Các hình thức sinh hoạt chính trị thường xuyên, nội dung phong phú. Các cuộc vận động giáo dục sâu sắc. Các phong trào thi đua yêu nước có hiệu quả thiết thực. Công tác động viên, khen thưởng kỷ luật có nề nếp chặt chẽ. Nhiều biện pháp thích hợp phục vụ tốt cho công tác giáo dục tư tuởng cán bộ, công nhân viên và sinh viên của nhà trường, trong đó có việc xây dựng phòng Truyền thống. Phòng Truyền thống Trường Đại học Tổng hợp Huế sớm được xây dựng, đặt ở một gian rộng rãi, khang trang tại cơ sở 27-Nguyễn Huệ. Khách đến thăm trường chỉ dành một thời gian ngắn đi qua một lượt phòng Truyền thống đã hình dung được sự ra đời và từng bước đi lên của Trường Đại học Tổng hợp Huế. Cán bộ, công nhân viên trong trường vào phòng Truyền thống nhớ lại những năm tháng đã qua và tìm thấy bóng dáng của mình, của tập thể mình qua những hiện vật trưng bày. Sinh viên mới vào trường, sau khi dự đợt sinh hoạt chính trị đầu khóa có một buổi thăm phòng Truyền thống để hiểu lịch sử vẻ vang của ngôi trường mình đang học. Tuổi trẻ làm nghĩa vụ quân sự thăm phòng Truyền thống trước khi lên đường. Sinh viên tốt nghiệp có điều kiện về thăm trường ghé vào phòng Truyền thống để “đọc” những trang sử mới của trường từ ngày mình xa cách. Một buổi hội thảo quan trọng, một buổi kết nạp đoàn viên mới tổ chức ở tại phòng Truyền thống như có thêm ý nghĩa.

Ở cửa vào phòng Truyền thống Trường Đại học Tổng hợp Huế người xem sẽ thấy trước hết là những hình ảnh sinh viên Đại học Văn khoa và Đại học Khoa học Huế đấu tranh chống Mỹ- ngụy. Đó là truyền thống đấu tranh yêu nước của sinh viên Huế đáng tự hào, gửi đến thế hệ sinh viên ngày nay lời kêu gọi kế thừa xứng đáng. Sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đối với trường ngay từ sau giải phóng, từ những ngày đầu trường mới thành lập thể hiện rõ trong những ảnh chụp các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu... đến thăm và nói chuyện với cán bộ, sinh viên của trường. Thư của các đồng chí Trường Chinh, Võ Văn Kiệt... gửi cho trường bày trang trọng ở tủ kính. Ở phòng Truyền thống người xem có thể tìm hiểu sự lớn lên của Trường Đại học Tổng hợp Huế theo năm tháng. Cũng có thể đi sâu hơn xem xét những thành tựu đạt được về từng mặt ở các mảng trưng bày: đào tạo, nghiên cứu khoa học, xây dựng cơ sở vật chất, hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao, quan hệ quốc tế, quan hệ với các địa phương ở miền Trung và Tây Nguyên... Tình hình phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa được phản ánh trong phòng Truyền thống là những tấm Bảng vàng danh dự, hàng loạt bằng khen của Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, các bộ, các tỉnh, bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, và nổi bật là bằng và huân chương lao động do Hội đồng Nhà nước tặng thưởng. Trên tường là dãy cờ đỏ tươi, trong đó nhiều lá cờ thi đua xuất sắc toàn ngành mà trường liên tục đạt được trong nhiều năm liền. Có một hiện vật quí là chiếc đĩa sứ cổ, một gia bảo mà cụ Hoàng Điền, hơn 80 tuổi đã thay mặt cả dòng họ mang từ Cam Lộ vào tặng trường để bày tỏ lòng biết ơn cán bộ Khoa Sử của trường nghiên cứu về Trung Lang tướng thời Tây Sơn Hoàng Kim Hùng. Ở phòng Truyền thống còn trưng bày nhiều hiện vật, những văn bản gốc, những bút tích, thư từ lịch sử, những tặng phẩm quí giá, những sản phẩm lao động, những mô hình, sa bàn, biểu mẫu... Mỗi thứ đều có tiếng nói của mình, có lịch sử riêng, và góp phần nói lên lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Huế trong thập niên đầu. Phòng Truyền thống của nhà trường và Bảo tàng dân tộc học là những văn hóa vật thể do tôi đã tạo dựng được từ một ý tưởng và bởi một cách làm mà thành hiện thực sống động.

Lãnh đạo xây dựng nhà trường tiến bộ nhanh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, Đảng bộ trường Đại học Tổng hợp Huế đã được Tỉnh ủy Bình-Trị-Thiên biểu dương và tặng cờ Tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh trong sạch nhiều năm liền. Từ một chi bộ lúc mới thành lập cho đến ngày 5 tháng 9 năm 1986 đại hội Đảng bộ lần thứ 5 tôi được liên tục giữ trọng trách là Bí thư Đảng bộ. Sau 10 năm số đảng viên tăng lên trên 100 người, đảng bộ có 11 chi bộ. Trong số Đảng viên tăng thêm có 46 người mới được kết nạp tại trường. Đó là sự trưởng thành vững chắc, bảo đảm cho sự lãnh đạo nhà trường vươn lên thành trường đại học tiên tiến xuất sắc trong những năm tháng có nhiều khó khăn.

10- Những dấu ấn không phai mờ

Năm 1986, tôi được Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Nguyễn Đình Tứ quyết định điều động nhận nhiệm vụ Phó Hiệu trưởng Trường Cán bộ quản lý của Bộ tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đúng vào lúc đó Trường Đại học Tổng hợp Huế kỷ niệm 10 năm ngày thành lập. Suốt mười năm, với trách nhiệm là Bí thư Đảng ủy, Phó hiệu trưởng phụ trách công tác chính trị tư tưởng và tổ chức cán bộ, tôi vinh dự đã đóng góp phần xứng đáng cùng tập thể xây dựng nhà trường. 10 năm là thời gian tôi có nhiều tiến bộ, vừa làm việc vừa học hỏi, tự bồi dưỡng để đảm đương trách nhiệm nặng nề hoàn thành tốt nhiệm vụ. 10 năm tôi sống và làm việc trong một tập thể đoàn kết, thân ái, tin cậy và tôn trọng nhau. Trước hết là trong Ban giám Hiệu trường Đại học Tổng hợp Huế. Đây là một Ban Giám hiệu có tuổi đời trẻ nhất trong các trường đại học cả nước ta lúc bấy giờ, một ban “lãnh đạo trẻ” và trường “đầy sức xuân” như hai vị giáo sư khả kính của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đề thơ tặng. Trong Đảng ủy qua các nhiệm kỳ đều coi trọng khối đoàn kết nhất trí trong lãnh đạo nhà trường. Tập thể cán bộ-công nhân viên nhà trường tăng nhanh về số lượng, khác nhau nhiều về nguồn gốc, thành phần, quá trình đào tạo... nhưng đã đoàn kết tốt. Số cán bộ lâu năm lớn tuổi hơn, gương mẫu, tích cực. Số cán bộ trẻ hăng hái, năng nổ, cầu tiến. Số nhân viên, giáo chức cũ nay đã chủ động, hòa nhập trong tập thể nhà trường mới. Nhiều cán bộ về trường chưa lâu đã hăng say đóng góp, trở thành nòng cốt xây dựng các đơn vị trong trường.
Chan hòa trong tập thể trường Đại học Tổng hợp Huế, gia đình tôi đã có hơn 10 năm hạnh phúc, sống và làm việc, nuôi các con khôn lớn, trưởng thành. Vợ tôi - cô Vũ Thị Việt, từ một cán bộ nghiên cứu ở Ủy ban Dân tộc Trung ương chuyển công tác vào Huế, ban đầu giảng dạy ở Trường Đại học Sư phạm Huế rồi là cán bộ giảng dạy dân tộc học khi Trường Đại học Tổng hợp Huế thành lập. Cô tham gia nhiều công tác đào tạo, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phục vụ địa phương. Cô là tác giả của nhiều báo cáo tham gia các hội nghị khoa học trường, hội thảo khoa học ngành và địa phương, là đồng tác giả sách “Các dân tộc ít người ở Bình-Trị-Thiên” và sau nữa là “Các dân tộc thiểu số ở tỉnh Phú Yên”. Đã một lần cô được chọn đi học nghiên cứu sinh ngành dân tộc học ở nước ngoài nhưng đã từ chối vì biết rõ chồng và các con sẽ rất khó khăn nếu cô đi xa lâu ngày. Một sự hy sinh âm thầm mà tôi mãi không quên và các con tôi phải biết ghi nhớ. Vợ tôi nhận quyết định giữ chức Chủ nhiệm Bộ môn dân tộc học thay tôi vào năm 1985 và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986. Nhiều bằng khen của trường, bộ, tỉnh và công đoàn tặng cho Vũ Thị Việt là những kỷ niệm tốt về một thời gian sống, làm việc và cống hiến ở Huế.

Con trai tôi – Nguyễn Quốc Vinh khi vào Huế lên 5 và lúc rời Huế đã 18 tuổi. Hơn 10 năm lớn lên ở Huế, gần gũi thân thiết với bao bạn bè cùng lứa tuổi trong khu tập thể 4-Lê Lợi của Trường Đại học Tổng hợp Huế. Trọn cả ba cấp học, từ Trường Phổ thông cấp I Vĩnh Ninh (lớp 1 đến lớp 5), rồi Trường Phổ thông cấp II Nguyễn Chí Diểu (lớp 6 đến lớp 9) đến Trường Phổ thông Trung học Hai Bà Trưng (lớp 10 đến lớp 12) trong học bạ của cháu đều ghi những nhận xét hết sức tốt đẹp, thành tích học tập các môn đạt điểm cao, liên tục là học sinh tiên tiến. Năm 1984 cháu được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Nguyễn Quốc Vinh đã tốt nghiệp phổ thông ngày 30 tháng 6 năm 1988, và thi vào Trường Đại học Tổng hợp Huế ngành Vật Lý với mã số TUA 9004 đạt 21 điểm. Đó là một kết quả xuất sắc và được Bộ Giáo dục và Đào tạo triệu tập vào học lớp ngoại ngữ để đi học nước ngoài. Cháu rời Huế cũng là lúc chuẩn bị xa gia đình để trở thành một lưu học sinh, đi du học ở Liên Xô, nơi tôi đã hai lần đến du học. Một truyền thống tốt đẹp được kế thừa, phát huy.

Con gái tôi – Nguyễn Thị Liên Hương, khi vào Huế, bắt đầu cuộc sống bên cạnh dòng sông xinh đẹp và thơ mộng mà cháu mang tên, mới có 6 tháng tuổi. Tuổi thơ ấu của cháu trải qua ở khu nhà tập thể đầy tình nghĩa của Trường Đại học Tổng hợp Huế tại số 4-đường Lê Lợi, thành phố Huế. Những bài học đầu tiên trong đời cháu là ở Nhà trẻ và Mẫu giáo do cô Trần Thị Luyện phụ trách tại khu nhà tập thể đáng nhớ này. Ở Trường Phổ thông cơ sở Vĩnh Ninh, từ lớp một đến lớp sáu, Liên Hương luôn là học sinh ngoan, học giỏi. Năm 1985, cháu được Thành phố Huế tặng bằng khen sau khi thi đạt học sinh giỏi văn toàn thành phố năm học 1984-1985.

Hơn 10 năm sống ở Huế, thỉnh thoảng chúng tôi cho các cháu về thăm quê nội và quê ngoại,một truyền thống về nguồn mang tính giáo dục và đạo lý sâu sắc của dân tộc. Năm 1979, khi chiến tranh biên giới phía Bắc diễn ra ác liệt ở Lạng Sơn chúng tôi đã đón ông bà ngoại các cháu vào Huế, nhưng ông bà chỉ thăm con, thăm cháu một thời gian ngắn rồi về lại Na Sầm. Ngày 20 tháng 4 năm 1984, cha tôi từ Hà Nội vào, dừng lại Huế thăm con cháu hai ngày, rồi về quê. Không ngờ, đó là lần cuối cùng, tôi và vợ con tôi được nhìn thấy và nghe ông nói ở nơi chúng tôi đang sống: Huế. Vào lúc 9 giờ sáng ngày 26 tháng 4 năm 1984 cha tôi đã qua đời tại quê nhà Phú Yên. Trường Đại học Tổng hợp Huế đã chăm lo chu đáo, bố trí cho vợ chồng tôi về ngay kịp chịu tang và tiễn đưa người cha kính yêu về nơi an nghỉ cuối cùng. Trường còn cử người vào dự tang lễ, chia buồn với gia đình tôi. Cuối năm 1987, mẹ vợ tôi – bà Nguyễn Thị Tiền qua đời ở Na Sầm (Văn Lãng, Lạng Sơn). Lúc bấy giờ tôi đang ở Thành phố Hồ Chí Minh, đã bay ngay ra Huế. Trường Đại học Tổng hợp Huế đã cho xe đưa vợ chồng tôi vào Đà Nẵng rồi đi máy bay ra Hà Nội. Trường Cán bộ quản lý đã cho xe đón và đưa ngay về nhà, nhưng tôi không kịp nhìn thấy người mẹ vợ hiền từ, hết mực thương yêu cháu, con. Cả hai lần đại tang, hai con chúng tôi không về tiễn đưa ông nội và bà ngoại được vì các cháu đang học và quê hương nội ngoại đều xa Huế. Nhưng sự quan tâm của tập thể Trường Đại học Tổng hợp Huế đã an ủi, động viên chúng tôi rất nhiều. Đầu năm 1986 tôi chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.

Phải xa Huế, rời Trường Đại học Tổng hợp Huế quả thật là ngoài sự mong muốn của tôi và cả gia đình. Nhưng từ những năm đầu 80 sức khỏe tôi kém sút, không thích nghi được với khí hậu khắc nghiệt và thời tiết ở Huế. Tôi đã có ý định xin Bộ cho chuyển công tác vào Nam sớm hơn, nhưng anh Hoàng Đức Đạt, Hiệu trưởng, vừa đi học về thì Bộ lại điều động anh Trần Ngọc Chương, Phó Hiệu trưởng ra Hà Nội nhận nhiệm vụ Chánh Văn phòng của Bộ. Đến năm 1986, tôi mới ra đi được, sau khi Ban giám hiệu đã có bổ sung.

Tôi xa trường, rời Huế trong tình cảm lưu luyến, nhớ thương chia tay với anh chị em toàn trường vào lúc nhà trường chuẩn bị kỷ niệm 10 năm xây dựng và trưởng thành. Tôi đến chào từ biệt các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy Bình-Trị-Thiên. Trong bữa cơm thân mật dành cho cả gia đình tôi, các anh Vũ Thắng (Bí thư Tỉnh ủy), Thái Bá Nhiệm (Phó Bí thư), Lê Văn Đang (Trưởng ban Khoa giáo), Ngô Thế Kiên (Tỉnh ủy viên, Chánh văn phòng) đã nói với tôi, người đã hơn 10 năm làm Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Tổng hợp Huế những lời thân tình, quí mến. Tôi nghĩ: Không phải lúc nào, ở đâu và với ai tôi cũng đón nhận được tình cảm sâu đậm quí giá như vậy.

Tôi rời Trường Đại học Tổng hợp Huế đi nhận nhiệm vụ mới vào lúc bước vào tuổi 50.

PGS.TS. NGUYỄN QUỐC LỘC – Bài viết được đăng trên Facebook Cựu sinh viên Đại học Tổng hợp Huế.


 Công tác sinh viên  02-11-2016  In

Copyright © 2016


Trang kết nối các thế hệ cựu sinh viên trường ĐH Tổng hợp Huế - ĐH Khoa học Huế

http://www.husc.edu.vn/cuusv/

(054) 3823.290

(054) 3824.901








--- A D V E R T I S E M E N T (click here) ---